KINH DỊCH – THÁNH KINH AI CẬP (Phần 4)

PHẦN 4 – KINH DỊCH AI CẬP
  • KINH DỊCH VÀ GIÁC NGỘ
  • 4.1: NÃO TRÁI, NÃO PHẢI
  • 4.2: LUẬT SỐ BA
  • 4.3: LUẬT SỐ BẢY
  • 4.4: 64 QUẺ DỊCH
  • 4.5: BÁT QUÁI
  • 4.6: 4 LẦN RỒNG BIẾN HOÁ
  • 4.6.1: RỒNG CÒN ẨN
  • 4.6.2: RỒNG TRÊN ĐỒNG
  • 4.6.3: RỒNG TRÊN TRỜI
  • 4.6.4: RỒNG BAY QUÁ CAO
  • 4.6.5: RỒNG KHÔNG ĐẦU
  • KẾT LUẬN

PHẦN 4 – KINH DỊCH AI CẬP

KINH DỊCH VÀ GIÁC NGỘ

Kinh Dịch và giác ngộ. Ra đi và trở về của vạn vật từ một nguồn chung Kinh Dịch cũng biết, nhưng thánh hiền Đông phương không nhận ra, trong đó có những tên tuổi như Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, Thiệu Ung, Chu Hi… Từ nhiều ngàn năm qua, trí thức Viễn Đông dồn hết tâm lực nghiên cứu Kinh Dịch và coi đó là sách bói toán, mà không biết đó là một trong những pháp môn thâm thuý nhất của nhân loại. Vài chi tiết có thể bàn qua ở đây, bao gồm não bộ, Luật Số Ba, Luật Số Bảy, Tia sáng tạo, tuyến thượng thận, và tuyến tùng.

4.1: NÃO TRÁI, NÃO PHẢI

Quẻ Thủy Hỏa Kí tế 63, hào 5 viết, “Hàng xóm bên Đông mổ trâu ăn mừng. Còn hàng xóm bên Tây tế lễ sơ xài mà thực sự được phúc.” Đông là nữa phải của cơ thể thuộc về não trái. Não trái thiên về logic, suy tư, lập luận. Đó là thế giới của triết học, khoa học, kỹ thuật. Mổ trâu ăn mừng là dấu hiệu của tiệc lớn, giầu sang, sung túc. Tây là nửa trái của cơ thể thuộc về não phải. Não trái dẫn ta vào xã hội và lạc trong danh vọng và quyền lực. Não phải dẫn ta vào nội tâm, theo tuyến tùng mà thoát khỏi ràng buộc của giác quan, của suy tư và cảm xúc mà nhận ra cái bất sinh, bất tử. Đó mới thực sự có phúc.

4.2: LUẬT SỐ BA

Luật Số Ba là bộ ba tạo nên mọi sinh vật trên quả đất. Thay vì Trời, Đất, Trăng, Trung Quốc gọi là Thiên, Nhân, Địa. Đó là lầm lẫn tai hại. Như đã bàn bên trên, không có Trăng, tuyệt đối không có sự sống. Hậu quả là Trung Quốc không biết sự sống diễn ra thế nào, cũng không biết đường về và hai trở ngại tại tuyến thượng thận và tuyến tùng.

4.3: LUẬT SỐ BẢY

Quy luật này dấu trong hai quẻ Địa Lôi Phục và Sơn Phong Cổ. Cổ có nhiều nghĩa, đổ vỡ (decay), thay đổi tần số biến đổi, lệch hướng… Thoán từ quẻ Phục viết, “Trở lại là Đạo. 7 ngày trở lại.” Trung Quốc giải thích là từ Cấu, tháng 5, đến Phục, tháng 11 là 7. Từ 5 đến 11 mới có 6 mà nói 7! Thế thì bảy ngày trở lại là quãng tám. Từ Đô của quãng tám này đến Đô của quãng tám sau là 7 – Đô-Re-Mi-Pha-Sol-La-Si-Đô. Trong 7 khúc này có hai trở ngại giữa Mi-Pha và Si-Đô. Thoán từ quẻ Cổ viết, “Giáp trước 3 ngày, giáp sau 3 ngày” (Tiên giáp tam nhật, hậu giáp tam nhật). Trung Quốc giải thích “Giáp trước 3 ngày là Tân – Tân, Nhâm, Quý, Giáp. Và sau “giáp 3 ngày” là Đinh – Giáp, ất, bính, đinh. Lần này từ Giáp đến Đinh là 3, không phải 4, như từ 5 đến 11.

Điều này không đúng! Nếu gắn mỗi ngày với một Can, tức là 10 ngày trở lại – từ Giáp này đến Giáp kia là 10, không phải 7 ngày trở lại theo quẻ Phuc. Hơn nữa, Trung Quốc gọi chu kỳ 10 ngày là Thập thiên căn, tức là 10 rễ trời, gồm có: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Vấn đề lớn là chu kỳ mới bắt đầu tại Giáp mà đã lệch hướng rồi, sao chu kỳ đó có thể hoàn tất được?

Vậy thì “Giáp trước 3 ngày, và sau giáp 3 ngày” là gì? Chu kỳ mới bắt đầu tại Đô, đến Re, Mi, thì đổ vỡ (Cổ, thay đổi, lệch hướng) tại Pha. Trước Pha 3 ngày – Mi, Re, Đô, đã có đổ vỡ (thay đổi) tại Si-Đô của quãng tám trước. Và sau Pha 3 ngày – Sol, La, Si, sẽ có thay đổi tại Si-Đô.  Thế thì trong một quãng tám có hai thay đổi tại Mi-Pha và Si-Đô, tức là mỗi quãng tám có 4 đoạn: Đô-Re-Mi; Mi-Pha; Pha-Sol-La-Si; và Si-Đô (Bảng 1).

4.4: 64 QUẺ DỊCH

Hình 4 bao gồm 3 quãng tám, và mỗi quãng tám có 4 khúc như trong Bảng 1. Nếu kí hiệu quãng tám Đạo-Tròi là Tròi, quãng tám Trời-Đất là Đất, quãng tám Đất-Trăng, và 4 khúc của quãng tám gọi là Tứ tượng, gồm có: thái âm, thiếu âm, thiếu dương, và thái dương (Bảng 1, cột 4), Hình 4 có thể kí hiệu như Hình 17. Ba thanh ngang trong hình đó là Trời, Đất, và Trăng. Còn 4 đuôi bên dưới là thiếu âm, thiếu dương, và thái dương.

Đó là đồ hình rút gọn của Kinh Dịch, hay đồ hình của Tia sáng tạo, không phải chữ “Kinh Dịch” mà từ lâu nhiều học giả đã hiểu lầm. Với đồ hình đó, lấy Tứ tượng của quãng tám Trời kết hợp với Tứ tượng của quãng tám Đất sẽ có 16 phần tử, mỗi phần tử có 4 vạch hoặc liền, hoặc đứt. Sau đó lấy 16 phần tử đó kết hợp với Tứ tượng của quãng tám Trăng sẽ có 64 trùng quái.

Thế thì 64 trùng quái đó kết hợp bằng công thức 64 bằng 4 nhân 4 nhân 4 (Hình 18), và nó giải thích được vì sao hào 1-2 thuộc Trăng, 3-4 thuộc Đất, và 5-6 thuộc Trời. Cấu trúc này khác hẳn phương pháp tạo trùng quái của Trung Quốc là 64 là 8 nhân 8. Phương pháp của Trung Quốc không giải thích được vì sao 6 hào của một quẻ được chia làm 3 loại: hào 1-2 thuộc Địa, 3-4 thuộc Nhân, và 5-6 thuộc Thiên.

4.5: BÁT QUÁI

Sau khi có 64 trùng quái, dựa theo phương pháp của Descartes biến một trường hợp phức tạp thành nhiều trường hợp đơn giản để dễ giải quyết. Theo phương pháp đó, cắt đôi 64 trùng quái sẽ cho tám đơn quái, gọi là bát quái. Bát quái có hai thứ tự. Tiên Thiên Bát Quái là 4 loại sức mạnh đối xứng nhau và hiện diện mọi nơi, không tùy thuộc thời gian. Bốn cặp đối đó là Càn-Khôn, Đoài-Cấn, Ly-Khảm, Chấn-Tốn (Hình 19). Hậu Thiên Bát Quái là một quy trình biện chứng từ khởi đầu đến chung cuộc, bắt đầu từ Chấn-Tốn-Ly-Khôn-Đoài-Càn-Khảm-Cấn (Hình 20).

4.6: BỐN LẦN RỒNG BIẾN HOÁ

Trong Hình 15, Cân tim người chết, trục cân có 8 quả đấm, và giữa quả 3 và 4 là mỏ con thú mông heo, mình người, đầu cá sấu, và giữa quả 7 và 8 là đòn cân. Cho nên trục cân là một quãng tám với mỏ con thú là trở ngại Mi-Pha, còn đòn cân là trở ngại Si-Đô. Hai trở ngại này chia quãng tám thành 4 khúc. Bốn khúc đó là 4 lần biến hoá của rồng, Bảng 3.

4.6.1: RỒNG CÒN ẨN

Rồng Còn Ẩn: Đô-Re-Mi. Thủy Thiên Nhu, 5 hào 6 có câu, “Ba người khách thủng thẳng tới.” Ba người đó là ăn uống tại Đô, dục tại Re, và quyền lực tại Mi. Nhưng sao thủng thẳng? Sinh ra đòi ăn liền; dục phải 13-14 tuổi mới xuất hiện; quyền lực thì hơn 20 mới phát khởi. Đó là nhu cầu sinh học, phải thoả mãn hoàn toàn trước khi nhu cầu tâm linh xuất hiện. Người nào đi tu trước khi những nhu cầu này thoả mãn là tu vì lý do kinh tế hay tâm lý, không phải tâm linh.

4.6.2: RỒNG TRÊN ĐỒNG

Rồng trên đồng: Mi-Pha. Rồng trên đồng, gặp đại nhân rất tốt. Tâm lý học nói rằng những người trai trong lứa tuổi 28-34 có một khủng hoảng phần tư đời, đòi hỏi phải làm gì đó. Phần đông, khủng hoảng đó sẽ qua đi vì tuyến thượng thận giữ họ trong đời. nhưng một số nhỏ cảm thấy thôi thúc đó mãnh liệt và phải lên đường tìm gì đó nhưng không biết tìm gì, tìm ở đâu. Nếu lúc đó may mắn sinh vào lúc một thánh nhân xuất hiện, Ngài sẽ giúp ta bỏ đời vào đạo – gặp đại nhân rất tốt. Vài thí dụ. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên nghe câu kệ của A Thuyết Thị mà bỏ đời vào đạo. Angulimala nhờ Phật mà quy y Phật. Valmiki nhờ Naropa mà bỏ đời vào đạo. Nhiều đệ tử Chúa đang đánh cá trên sông. Ngài bảo họ, “Hãy theo ta đánh cá người.” Lập tức họ bỏ thuyền, bỏ lưới và theo Ngài.

4.6.3: RỒNG TRÊN TRỜI

Rồng trên trời: Pha-Sol-La-Si. Hào 5 quẻ Càn nói, rồng ở trên trời, gặp được người thông thái rất có lợi. Sau một thời gian dài tu thân tích đức, bạn đứng trước ngưỡng cửa của mê và ngộ. Đó là ý nghĩa của rồng trên trời. Ở giai đoạn này, suy nghĩ và cảm xúc vẫn còn mà bạn không thể tự loại bỏ chúng. Nếu bạn may mắn gặp một thánh nhân, ngài có thể tạo điều kiện để biến hai não thành một, làm cho suy tư và cảm xúc tan biến. Bạn sẽ nhận ra bản chất chân thực của mình; do đó, gặp được đại nhân rất có lợi. Tuy nhiên, nếu không thoát khỏi suy tư và cảm xúc của mình, bạn sẽ tiếp tục tái sinh cho đến khi bạn đóng được Mắt Horus của mình. Đô đó, luân hồi xảy ra ở hai điểm: tuyến thượng thận và tuyến tùng.

4.6.4: RỒNG QUÁ CAO

Rồng bay quá cao: Si-Đô. Rồng bay quá cao có điều hối lỗi, Càn, hào 6. Giác ngộ hay giải thoát là một biến cố phản tự nhiên, bởi vì tâm trí ta luôn luôn giao động giữa suy tư và cảm xúc mà không có cách nào trực tiếp làm chúng biến mất. Thế thì ta phải nhờ một thánh nhân tiếp sức để cái phản thiên nhiên đó xảy ra. Phương pháp thường dùng là tạo ra cái sốc để hai não thành một. Chúa nói trong Phúc âm Tô-Ma, “Biến hai thành một… các ông sẽ vào được Nước Trời.” Biến hai thành một là não trái không vướng trong suy tư, và não phải thoát khỏi cảm xúc. Trong Tâm Kinh, Quán Thế Âm khai ngộ cho Xá Lợi Phất bằng cách bác bỏ toàn bộ giáo lý của Phật giáo – Tứ Diệu Đế, thập nhị nhân duyên,..v.v. Trong Tarot, lá Justice, đạo sư cầm kiếm đôi, mục đích tạo ra sốc để ta giật mình. Hai cột xám hai bên tượng trưng hai não xám, ý nói hai não đã thành một; cân thăng bằng cũng tượng trưng suy tư và cảm xúc đã biến mất. Phương pháp của Chúa có lẽ độc đáo nhất. Ngài không khai ngộ cho một người, mà cho cả đám, bằng cách thản nhiên chọn cái chết thảm khốc nhất ngay giữa đám đông. Từ lúc Chúa bắt đầu bị đóng đanh, đến lúc Ngài tắt thở, đám đông quan sát thất kinh, phổi quên thở, tim ngừng đập, suy tư và cảm xúc biến mất; giác quan tê liệt trong lúc tuyệt đối tỉnh thức.

Vì sao có điều hối lỗi? Khi suy tư và cảm xúc biến mất là lúc thể xác ta chết trong lúc tuyệt đối tỉnh thức, cái tôi biến mất, dù muốn chia sẻ kinh nghiệm của mình không còn thể xác để nói. Thể xác chết là lúc tuyến tùng mở ra, ta lọt vào thế giới chân như, cực lạc. Sau khi giác ngộ, Phật đã im lặng một tuần vì không thể nói được cái mình đã trải qua. Phi-La-Tô hỏi Chúa, “Chân lý là gì.” Chúa im lặng. Có người hỏi Osho, “Hồn nhiên là gì?” Im lặng một lúc, Ngài đứng lên, kết thúc buổi nói chuyện.

4.6.5: RỒNG KHÔNG ĐẦU

Rồng không đầu: Đô. Càn, dụng cửu viết, “Thấy bầy rồng không đầu. Rất tốt.” Đầu tượng trưng cho vai trò kép của não là suy nghĩ và cảm xúc, tạo ra cảm giác sai lầm về cái tôi. Khi tuyến tùng mở ra, cơ thể tạm thời chết, cái tôi biến mất cùng với suy tư và cảm xúc. Đó là giải thoát, giải thoát khỏi suy tư và cảm xúc. Đó là  giác ngộ, là nhận ra bổn lai diện mục của mình. Một chi tiết nhỏ nhưng cực kỳ quan trọng cần lưu ý ở đây. Không giống như các hào trong một quẻ là liền hoặc đứt, “Dụng cửu” không phải là hào, vì nó nằm ngoài phạm vi của Luật Số Ba và Luật Số Bảy. Đó là những quy luật của thế giới hữu hình, nghĩa là giác ngộ, hay giải thoát là một biến cố nằm ngoài không gian và thời gian, nghĩa là không có người, chẳng có ta. Tất cả đều là Đạo.


KẾT LUẬN

Kinh Dịch là nguồn tri thức bí truyền cổ xưa, nhưng trong nhiều ngàn năm, nó đã được dùng như một công cụ bói toán. Những khám phá khoa học gần đây giúp giải mã các bí mật của nó liên quan đến vũ trụ và con người. Khác những tôn giáo hiện đại, Kinh Dịch không có giáo điều và có thể được xác thực theo khoa học mà không cần thờ cúng hay nghi lễ. Thách thức chính là vượt qua hai trở ngại tại tuyến thượng thận và tuyến tùng, thường bị các tôn giáo hiện đại bỏ qua. Hướng dẫn của một thánh nhân đã giác ngộ rất quan trọng, trừ khi bạn là người phi thường như Đức Phật hoặc Chúa Giê-su. Cuối cùng, Kinh Dịch khuyến khích bạn chấp nhận cuộc sống hoàn toàn, và điều đó làm danh vọng và quyền lực mất sức hấp dẫn, dẫn đến bình yên bên trong bạn.

Kinh Dịch do đó là một tôn giáo phi tôn giáo. Những kiến thức bí truyền của nó dần dần được bộc lộ theo một kế hoạch thiêng liêng. Một ví dụ điển hình là kinh điển đồ sộ của Phúc âm Ngộ đạo đã được tình cờ phát hiện ở Ai Cập năm 1945. Trong trường hợp của Kinh Dịch, pháp sư George Gurdjieff đầu thế kỷ 20 đã giới thiệu các khái niệm như Tia sáng tạo, Luật Số Ba và Luật Số Bảy. Sau đó, khám phá DNA vào những năm 1950 đã liên kết giáo lý của Gurdjieff với cấu trúc của vũ trụ, tế bào sống, Kinh Dịch, Tarot và chiêm tinh học. Roger Sperry khám phá cấu trúc não bộ trong những năm 1960. Sau đó phương pháp quan sát hoạt động của não bộ vào những năm 1980. Cuối cùng Google cho phép truy cập các tài liệu trên toàn thế giới để kết nối các khám phá khoa học với Kinh Dịch, Tarot, giáo lý Gnostic, v.v.

Những bài học thiết yếu từ Kinh Dịch khẳng định rằng bạn là chủ nhân của vũ trụ, và không kiếm cứu rỗi bên ngoài và nuôi dưỡng những nhu cầu cơ bản của chính mình, quẻ Nhu số 5, hào 6. Nếu nhu cầu của bạn không được đáp ứng, xung đột bên trong sẽ nảy sinh, dẫn đến việc tìm kiếm kẻ thù bên ngoài; điều này giải thích vì sao chiến tranh xảy ra triền miên. Thiếu bình yên và hạnh phúc bên trong sẽ buộc bạn tìm thỏa mãn bên ngoài, dẫn đến chiến tranh và hủy diệt bất tận, thường là do ảnh hưởng của tôn giáo.

(Hết)


error: Không thể copy! (Content protected!)