- DẪN NHẬP
- PHẦN 1 – NHỮNG QUY LUẬT VŨ TRỤ
- 1.1: TIA SÁNG TẠO
- 1.2: LUẬT SỐ BA
- 1.3: LUẬT SỐ BẢY
- 1.4: 64 MÃ DI TRUYỀN
- 1.5: CHIÊM TINH
- PHẦN 2 – QUÁ TRÌNH SỰ SỐNG
- 2.1 CÂY SỰ SỐNG KABALLAH
- 2.2 CÂY SỰ SỐNG AI CẬP
- 2.3 CÂY SỰ SỐNG VẠN XUÂN
- PHẦN 3 – TRỞ VỀ CỦA VẠN VẬT
- 3.1: NÃO TRÁI – LOGIC
- 3.2: NÃO PHẢI – TRỰC QUAN
- 3.3: TRỞ NGẠI 1: THƯỢNG THẬN
- 3.4: TRỞ NGẠI 2: TUYẾN TÙNG
- 3.5: ĐƯỜNG VỀ 7 ĐOẠN, 5 KHÚC
- PHẦN 4 – KINH DỊCH AI CẬP
- 4.1: NÃO TRÁI, NÃO PHẢI
- 4.2: LUẬT SỐ BA
- 4.3: LUẬT SỐ BẢY
- 4.4: 64 QUẺ DỊCH
- 4.5: BÁT QUÁI
- 4.6: 4 LẦN RỒNG BIẾN HOÁ
- 4.6.1: RỒNG CÒN ẨN
- 4.6.2: RỒNG TRÊN ĐỒNG
- 4.6.3: RỒNG TRÊN TRỜI
- 4.6.4: RỒNG BAY QUÁ CAO
- 4.6.5: RỒNG KHÔNG ĐẦU
- PHẦN 1 – NHỮNG QUY LUẬT VŨ TRỤ
- KẾT LUẬN
DẪN NHẬP
Chu Dịch, hay Kinh Dịch, hay sách về biến dịch, không phải Kinh Dịch của nhà Chu, mà là sách về biến dịch vòng tròn; vòng tròn chữ Hán là Chu. Sách mở đầu với quẻ Càn nói về quá trình giác ngộ; Khôn nói về đạo của đệ tử. Nhưng hành trình biến dịch vòng tròn bắt đầu với quẻ thứ ba, Truân. Sau vô lượng thời gian, hành giả đến được quẻ 63, Kí tế. Kí tế nghĩa là đã xong, đã về nhà, đã qua sông, đã qua bờ bên kia. Nhưng khi qua được sông, anh nhận ra không có sông nào để qua, bờ bên kia cũng là bờ bên này, và anh chưa hề rời khỏi nhà. Đó là quẻ Vị tế số 64, chưa qua sông, chưa về nhà. Đó là biến dịch vòng tròn. Trung Quốc biết không phải tác giả của Chu Dịch nên đã phịa ra rằng có ba bộ Dịch: Liên sơn bắt đầu với Thuần Cấn số 52 của nhà Hạ; Quy tàng với Thuần Khôn số 2 của nhà Thương; Chu Dịch với Thuần Càn số 1 của nhà Chu. Liên sơn, Quy tàng đã thất lạc, chỉ còn Chu Dịch và được Khổng Tử san định. Video này chứng minh nguồn gốc Ai Cập của Chu Dịch.
Hơn 5.000 năm trước, một nhóm người Trung Đông đã di cư đến Trung Quốc và mang theo những yếu tố của nền văn minh Ai Cập, bao gồm chữ viết, thần thoại và các hiện vật khác. Trong thuyết trình tháng 3 năm 2016, nhà địa hóa học Tôn Vệ Đông, từ Đại học Khoa học và Công nghệ ở Hợp Phì, đã trích dẫn sử gia Tư Mã Thiên về địa hình của nhà Hạ, “Con sông chảy về phía bắc, chia thành chín nhánh. Sau đó chúnghợp lại, tạo thành sông lớn rồi chảy ra biển.” Trên thế giới chỉ có một con sông chảy về phía bắc, đó là sông Nile ở Ai Cập. Ngoài ra, vào những năm 1990, khi định tuổi đồ đồng cổ của Trung Quốc bằng phương pháp phóng xạ, Vệ Đông phát hiện ra rằng thành phần hóa học của chúng giống với thành phần của đồ đồng Ai Cập cổ đại, hơn là quặng bản địa của Trung Quốc. Với phát hiện này, Vệ Đông tuyên bố rằng những người sáng lập văn minh Trung Quốc không phải người Trung Quốc, mà thực chất là những di dân từ Ai Cập. Về chữ viết của Trung Quốc, học giả Paul Carus nhận thấy có tương đồng rõ ràng giữa chữ viết của Trung Quốc và chữ hình nêm. Hơn nữa, Kinh Dịch, hay Chu Dịch, là một sáng tạo khác của Ai Cập mà Trung Quốc thừa hưởng nhưng không hiểu được kiến thức sâu sắc của nó về vũ trụ và nhân loại. Nó có một bản đồ chi tiết về hành trình từ một nguồn chung, gọi là Đạo, nơi mà tất cả và cuối cùng sẽ quay trở lại. Khi kiến thức sâu sắc của nó đang dần được tiết lộ, trong kỷ nguyên sắp tới, các tôn giáo dựa trên đức tin sẽ bị đào thải, và Kinh Dịch sẽ trở thành ánh sáng dẫn đường cho nhân loại trong quá trình tìm về chân lý của mình.
Bài viết này gồm bốn phần. Phần đầu phác thảo các định luật phổ quát, đề xuất rằng vũ trụ, Kinh Dịch, DNA, Tarot và chiêm tinh có cùng cấu trúc. Phần thứ hai áp dụng các định luật này để giải thích xuất phát của vạn vật từ một nguồn chung và quá trình tạo ra sự sống trên Trái đất. Phần thứ ba thảo luận về hành trình trở về và những trở ngại phải vượt qua. Cuối cùng, phần thứ 4 xác nhận Kinh Dịch có tất cả các đặc điểm của các phần trước, ngụ ý rằng nó không phải là sáng tạo của Trung Quốc.
PHẦN 1 – NHỮNG QUY LUẬT VŨ TRỤ
Khoa học nói cách đây khoảng 13,7 tỷ năm, vật chất trong vũ trụ cô đọng trong một điểm vô cùng nhỏ, với mật độ và nhiệt độ vô hạn. Đột nhiên, một tiếng nổ lớn xảy ra, làm vũ trụ phình ra nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Đây là một giai đoạn vũ trụ mở rộng kéo dài tức thì xảy ra. Khi vũ trụ đột ngột kết thúc mở rộng, vật chất và bức xạ bắt đầu lấp đầy vũ trụ với những thứ mà chúng ta biết ngày nay: hạt, nguyên tử. v.v. là những thành phần tạo nên những thiên thể và thiên hà, v.v.
Vài câu hỏi khó chịu cần đặt ra. Điều gì khiến vũ trụ cô đọng lại một điểm? Các vật thể cô đọng lại đó từ đâu mà có? Trong khoảng hư không mênh mông vô tận, quy luật nào cho phép vật chất tụ lại một điểm? Sức mạnh nào làm cho nhiệt độ tăng vô hạn? Dĩ nhiên, khoa học không thể biết vũ trụ là gì trước khi đọng lại. Gần đây khoa học xác nhận các thiên hà chạy xa nhau ngày cùng mau. Điều này mâu thuẫn quy luật vật lý nói rằng trọng lực là lực duy nhất trong thế giới vĩ mô. Khoa học cũng nói tuổi của các thiên hà không giống nhau, vậy thì vật chất từ đâu ra cho những thiên hà đó? Để giải đáp những câu hỏi đó, khoa học nói rằng năng lượng tối làm các thiên hà chạy xa nhau, còn vật chất tối chính là vật chất tạo nên các thiên hà mới. Thế thì đâu là nguồn gốc của năng lượng đó, và từ đâu mà có vật chất tối?
1.1: TIA SÁNG TẠO

Một chi tiết quan trọng khác khoa học không biết đó là vật chất trong vũ trụ không tản mát khắp nơi, mà có một trật tự rõ ràng, với nhiều chuỗi thiên hà, mỗi thiên hà có nhiều thái dương hệ, nghĩa là cấu trúc của vũ trụ nhìn từ hướng nào cũng giống nhau (Hình 1). Cấu trúc đơn giản này cho phép huyền môn nhận ra những quy luật xây lên vũ trụ. Khoa học nói rằng vũ trụ chỉ là cái bóng của một thực thể ẩn khuất mà khoa học không thể biết được. Huyền môn gọi thực thể đó là Đạo.
Trong Hình 2, Đạo, đánh dấu bằng nốt Đô, là cái nguồn từ đó vạn vật ra đi và sẽ trở v. Vũ trụ có nhiều cụm thiên hà, đánh dấu bằng nốt Si; trong những thiên hà đó có giải Ngân hà với nhiều Thái dương hệ, đánh dấu bởi nốt La; trong những thái dương hệ đó có Mặt trời, nốt Sol; Mặt trời sinh ra các hành tinh, nốt Pha; Trái đất, nốt Re là một trong những hành tinh đó; từ trái đất mà có Mặt trăng, nốt Mi; bên dưới Mặt trăng là hư không, tức là Đạo, nốt Đô.

Thế thì theo Hình 2, mọi thiên thể đều có thể xác định được bằng cách bắt đầu từ một thiên hà xuống mặt trời, rồi trái đất và mặt trăng. Một chuỗi các thiên thể đó gọi là Tia sáng tạo, mỗi chuỗi một quãng tám, gọi là Luật Số Bảy, gồm 8 đoạn Đô, Re, Mi, Pha, Sol, La, Si, Đô. Nhờ Luật Số Bảy mà không có hỗn loạn. Tuy nhiên, quy luật nào quyết định từ đâu mà có những thiên thể này? Đạo là thực thể duy nhất hiện hữu nên không có ý muốn gì, kể cả ý muốn dựng lên vũ trụ. Nhưng Đạo có nguyên tắc sáng tạo bao gồm Luật Số Ba và Luật Số Bảy. Luật Số Ba là ba tác nhân gây ra mọi biến động trong vũ trụ. Luật Số Ba có nhiều tên khác nhau, trong vũ trụ là ba lực – lực sinh, lực hút và lực đẩy. Lực sinh giúp các thiên thể sinh ra những thiên thể cấp dưới. Lực hút, cũng gọi là trọng lực, giữ các phần tử trong hệ thống lại với nhau. Lực đẩy có hai nhiệm vụ: trong cùng một hệ thống là lực ly tâm, và nó giữ các thiên thể nhỏ không bị các thiên thể lớn hút vào, đồng thời nó đẩy, không cho phép các thiên thể bên ngoài lọt vào hệ thống. Lực đẩy giải thích vì sao các thiên hà luôn luôn chạy xa nhau. Lực sinh giải thích vì sao các thiên thể và các thiên hà luôn luôn lớn dần và chạy xa nhau. Luôn luôn lớn dần nhưng không hỗn loạn vì có Luật Số Bảy kiểm soát những phương thức mọi biến đổi phải tuân theo.
1.2: LUẬT SỐ BA
Luật Số Ba có nhiều tên gọi khác nhau:
- Chủ động, phản động, trung tính;
- Lực sinh, lực nuôi dưỡng, và lực chết;
- Trong Vũ trụ: Lực sinh, lực hút, và lực đẩy;
- Trong cấu trúc DNA: chữ cái 1, chữ cái 2, chữ cái 3;
- Chiêm tinh: Tiên phong, Kiên định, linh động;
- Kinh Dịch – Trời, Đất, Trăng;
- Vật lý: trọng lực, lực mạnh, điện từ-yếu
Một nguyên tắc tối quan trọng của Luật Số Ba là tại mỗi giao điểm của nó với không gian và thời gian, nó tạo ra một đơn vị sáng tạo mới và ba lực mới. Thế thì tổng số lực của một đơn vị là tổng số lực của những đơn vị bên trên nó, cộng với ba lực mới. Thí dụ, trong Hình 2, tổng số lực của mặt trời là 12 = 0 (Đạo) + 3 (thiên hà) + 6 (Ngân hà) + 3 (3 lực mới của mặt trời).
1.3: LUẬT SỐ BẢY
Luật Số Ba là ba tác nhân gây ra mọi biến động trong vũ trụ. Biến động nhưng không hỗn loạn vì có Luật Số Bảy. Luật Số Bảy nói rằng mọi hiện tượng thiên nhiên đều hợp bởi nhiều chu kỳ 7 đoạn, kí hiệu bằng 7 nốt nhạc – Đô, Re, Mi, Pha, Sol, La, Si, Đo. Vài thí dụ về Luật Số Bảy:
- Nhạc lý có 7 nốt Đô, Re, Mi, Pha, Sol, La, Si;
- Bảng tuần hoàn có 7 bậc;
- Ánh sáng trắng có 7 màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam; chàm, tím;
- Tuần có 7 ngày;

Trong 7 đoạn này, có hai đoạn tại đó có thay đổi trong tần số biến đổi, tại Mi-Pha và Si-Đô. Trong phím piano, giữa hai nốt Mi-Pha và Si-Đô không có phím đen ở giữa (Hình 3).
Vì thế, 7 đoạn này có thể chia làm 4 khúc: 1: Đô-Re-Mi; 2: Mi-Pha; 3: Pha-Sol-La-Si; và 4: Si-Đô. Bốn khúc này có nhiều tên khác nhau (Bảng 1).

1.4: 64 MÃ DI TRUYỀN
Như vậy, vũ trụ có vô số Tia sáng tạo. Đó là cấu trúc toàn hình của vũ trụ, nhìn đâu cũng giống nhau. Ngoài ra, vì thiên hà và những hành tinh của thái dương hệ không ảnh hưởng nhiều đến những sinh vật trên trái đất như Đạo, mặt trời, trái đất, và mặt trăng. Hình 2 rút gọn lại thành Hình 4, gọi là Tia Sáng Tạo Đơn Giản. Nếu kí hiệu 4 khúc của quãng tám như sau: A là Đô-Re-Mi; C là Mi-Pha; T là Pha-Sol-La-Si; và G là Si-Đô; đồng thời kí hiệu quãng tám Đạo-Trời = Chữ cái 1; quãng tám Trời-Đất = Chữ cái 2; và quãng tám Đất-Trăng = Chữ cái 3.

Kết quả là Chữ cái 1, Chữ cai 2, và Chữ cái 3 đều có 4 phần tử: A, C, T, G (Hình 4). Cuối cùng, tích hợp Descartes các phần tử của Chữ cái 1 với các phần tử của Chữ cái 2. Ta sẽ có 16 phần tử; sau đó tích hợp Descartes 16 phần tử đó với 4 phần tử của Chữ cái 3, ta sẽ có 64 bằng 4 nhân 4 nhân 4 bộ ba (Hình 5). Đó là 64 mã di truyền của cấu trúc ADN, với A, C, T, G là 4 axit cơ bản của ADN. Một chi tiết quan trọng mà khoa học không biết. Hình 6 có 3 quãng tám và một nốt Đô ở Đạo. Kết quả là ta có 22 (22 bằng 7 nhân 3 cộng 1) nốt. Đó là 22 axit amino. Thế thì Tia sáng tạo là nguồn gốc sự sống (Hình 6). Nói cách khác, mỗi tế bào của một sinh vật có cùng cấu trúc với vũ trụ. Đó là vũ trụ toàn hình.


1.5: CHIÊM TINH
Hình 4 cũng có thể liên kết với chiêm tinh (Hình 7). Chiêm tinh có 3 tính chất là Tiên phong, Kiên định, và Linh động. Đó là Luật Số Ba của chiêm tinh. Kí hiệu quãng tám Đạo-Trời = Tiên phong, Trời-Đất = Kiên định, Đất-Trăng = Linh động. Luật Số Bảy thể hiện qua 4 nguyên tố kí hiệu như sau: Đô-Re-Mi = Lửa, Mi-Pha = Đất, Pha-Sol-La-Si = Gió, và Si-Đô = Nước (Hình 7). Như vậy, Tiên phong (T), Kiên định (K) và Linh động (L) đều có 4 nguyên tố Lửa (L), Đất (D), Gió (G), và Nước (N).

Kết hợp 3 tính chất với 4 nguyên tố sẽ có 4 bộ ba (T, K, L) thể hiện qua 4 bộ ba các nguyên tố: LDG, NLD, GNL, DGN (Bảng 2).

PHẦN 2 – QUÁ TRÌNH SỰ SỐNG

Hình 6 mô tả cấu trúc DNA với 22 axit amino và 4 axit cơ bản. Theo khoa học hiện đại, DNA và RNA là những khối xây dựng của sự sống. Khoa học cũng nói, qua một quá trình nào đó vật chất vô cơ, như đất đá, sẽ biến thành hữu cơ. Thế thì toàn thể vũ trụ đều là sự sống. Nhưng khoa học chưa biết sự sống diễn ra thế nào. Hình 4 mô tả chuỗi sáng tạo đơn giản từ Đạo, qua Mặt trời, Trái đất, và Mặt trăng.
Vì 64 mã di truyền khai triển từ Tia sáng tạo, nó chính là nguồn gốc của sự sống: DNA, RNA. Hình 4 có thể diễn tả chính xác hơn với Hinh 8 vì mặt trời tác động cùng một lúc lên cả trái đất lẫn mặt trăng, không phải qua trung gian trái đất mới đến mặt trăng. Kinh Dịch gọi ba lực này là Trời, Đất, Trăng, nhưng người Hoa hiểu lầm là Thiên, Nhân, Địa.


Cũng trong Hình 8, vì Đạo hiện diện và tác động khắp nơi cùng một lúc, do đó tác động của nó trên một sinh vật trên trái đất thể hiện qua Trời, Đất, và Trăng. Tác động của ba thiên thể này tạo ra mọi sinh vật trên trái đất. Quá trình sinh ra các sinh vật trên trái đất được mô tả qua ba Hình 9, 10, và 11.
Hình 9 là Cây Sự sống Kaballa của Do thái, nhưng nguồn gốc và ý nghĩa của nó rất phức tạp, không biết từ đâu mà có. Hình 10 là Cây Sự sống Paut Neteru của Ai Cập. Triết lý của Paut Neteru đã bị thất lạc, chỉ còn hình vẽ.


Hình 11 là Cây Sự sống Vạn Xuân dựa theo Luật Số Ba và Luật Số Bảy. Luật Số Ba, thể hiện qua 3 thiên thể là lực gây ra mọi biến động trong vũ trụ. Biến động nhưng không hỗn loạn vì có Luật Số Bảy kiểm soát các phương thức mà mọi biến động phải tuân theo. Hai quy luật này tuy hai mà một, là nguyên tắc sáng tạo nội tại của Đạo. Do đó, mọi hiện tượng, hữu hình hoặc vô hình, đều là những thể hiện khác nhau của nguyên tắc sáng tạo đó.

Đó là nguyên tắc sáng tạo nội tại của Đạo biến thành đất, đá, cây cỏ, súc vật và người. Mọi hiện tượng đều là những thể hiện của nguyên tắc sáng tạo, và những thể hiện đó đều là những phản ánh của thực thể tối thượng duy nhất hiện hữu là Đạo.
Cũng trong Hình 11, Luật Số Ba thể hiện qua ba thiên thể tạo nên mọi sinh vật trên trái đất – Trời, Đất, Trăng. Quá trình tạo nên những sinh vật đều phải tuân theo Luật Số Bảy gồm 8 nốt để bảo đảm trật tự – Đô, Re, Mi, Pha, Sol, La, Si, Đô. Trong 8 nốt này có hai thay đổi giữa Mi-Pha và Si-Đô. Hai thay đổi này biến 8 nốt này thành 4 khúc: Đô-Re-Mi; Mi-Pha, Pha-Sol-La-Si; Si-Đô. Đó là lý do từ Đô của Trời, của Đất và của Trăng đến Đô của Người đều có 4 khúc: Đô-Re-Mi; Mi-Pha, Pha-Sol-La-Si; Si-Đô. Với nguyên tắc sáng tạo của Đạo thể hiện qua Luật Số Ba và Luật Số Bảy, sự sống diễn ra như sau:
1 – Mặt trời, đại diện bởi thần Herukhuti, là nguồn ban sự sống. Không có Mặt trời, sự sống trên Trái đất không thể tồn tại.
2 – Mặt trăng. Lah thần mặt trăng bảo vệ sự sống và nuôi dưỡng sự sống. Hấp lực của trăng khiến nước ngầm trong đất nổi lên, sau đó thủy triều và gió tạo ra các dòng hải lưu trên toàn thế giới, giúp phân phối rộng rãi các chất dinh dưỡng và khử chất độc trong nước của đất. Nếu không có hiệu ứng này, nước biển sẽ bị ứ đọng và gây trở ngại nghiêm trọng, thậm chí giết chết hầu hết sự sống trong đại dương, sông ngòi. Ngoài ra, Trăng còn bảo vệ Trái đất khỏi bị tiêu diệt do các tiểu hành tinh, thiên thạch và sao chổi lao tới. Bằng chứng là mặt bên kia của Trăng có rất nhiều hố lớn do các thiên thạch lao vào trái đất bị hấp lực của Trăng chận lại.
3 – Geb là thần đất của Ai Cập. Trái đất là nơi tiếp nhận sự sống. Hấp lực của Trăng làm cho nước ngầm dưới Đất nổi lên, rồi được Trăng lưu chuyển khắp nơi, làm giảm nhiệt độ của Đất, tạo điều kiện cho cây cỏ và côn trùng xuất hiện. Ai Cập cổ đại tin rằng tiếng cười của Geb tạo ra động đất, tạo điều kiện cho cây cối rồi côn trùng xuất hiện.
4 – Khonsu. Khonsu là hiện thân của ánh trăng lưỡi liềm. Trăng luân chuyển nước trên các đại dương và sông ngòi, giúp làm mát nhiệt độ Trái đất để sự sống trên mọi dạng thức có thể phát triển. Hiện tượng làm mát này phản ánh qua khúc Si-Đô trên trục ở giữa. Mức độ ánh sáng dao động được phản chiếu bởi trăng cũng có tác động đến sự sống trên Trái đất. Ánh trăng thu hút các loài côn trùng sống về đêm đến với cây, hơi nước trong sương tạo ra những giọt chất lỏng giúp phấn hoa dính vào côn trùng khi chúng bay ngang qua, tạo điều kiện cho hoa, trái nở ra. Như vậy, ánh trăng giúp cây cối phát triển. Hiện tượng này giúp cây cỏ xuất hiện, tạo điều kiện cho côn trùng xuất hiện làm thực phẩm cho súc vật ở khúc Si-Đô trên trục giữa.
5 – Hapy là thần của thực vật và cây cỏ. Ông thường được miêu tả là một người đàn ông béo màu xanh với bộ ngực chảy xệ, tượng trưng cho sinh sản và sung túc, thường mang theo cây cối và thức ăn.
6 – Taurt, nữ thần bảo vệ nhân từ khả năng sinh sản và sinh nở, gắn liền với việc nuôi dưỡng trẻ sơ sinh. Thực vật, động vật và con người cần có bộ phận tương ứng là nam và nữ để sinh sản.
7 – Isis là nữ thần tình yêu, sắc đẹp, âm nhạc và tình mẫu tử. Ánh trăng còn giúp nhiều loài động vật sống về đêm tìm kiếm thức ăn. Ánh trăng và khí lạnh về đêm kích thích cảm hứng âm nhạc, nghệ thuật của con người. Trong nhiều truyền thống thần bí, Mặt trăng với ánh sáng bạc là biểu tượng của thiền định. Phật và nhiều đại hồn thành đạo ngày Trăng tròn.
8 – Djedhor đại diện tình yêu của cha đối với con. Nhờ Djedhor bảo vệ và nuôi dưỡng mà đời sống không bị gián đoạn. Có thể con không có dưỡng, dục của cha, nhưng hạt giống của cha tuyệt đối cần thiết vì một con cái có thể giao hợp với cả trăm con đực, nhưng mỗi năm chỉ sinh được một lần. Nhưng một con đực có thể làm cả trăm con cái mang thai.
9 – Thoth, thần của động vật hoang dã. Động vật xuất hiện khi đã có đủ thức ăn từ cây cỏ và côn trùng.
10 – RA, thần sinh ra con người. Khi vượt qua được Si-Đô trên trục Trời-Người, con người là đỉnh cao của sáng tạo tại Đô.
PHẦN 3 – TRỞ VỀ CỦA VẠN VẬT
HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ
Khác những loài khác, con người có tâm trí, có bộ não để nhận ra và đáp ứng với những kích thích từ Trời, Đất, Trăng thể hiện qua xã hội, gia đình, học đường và nội tâm của mình. Quan trọng nhất, con người có khả năng vượt qua những áp lực của ba sức mạnh đó mà giải thoát. Con đường trở về đầy cam go, nhiều thử thách chỉ có thể thực hiện được với con người vì những trở ngại rất khó tự mình vượt qua mà cần tiếp sức của một thánh nhân. Cho nên quan trọng nhất là phải hiểu cấu trúc của não bộ.

Năm 1960 Roger Sperry khám phá não bộ có nữa trái kiểm soát nửa người bên phải, và nửa phải kiểm soát nửa người bên trái (Hình 12).
Não trái thiên về logic, ngôn ngữ, lời nói, sự kiện, thứ tự. Não phải thiên về sáng tạo, trực quan, nghệ thuật, phi ngôn ngữ, và tưởng tượng. Đơn giản hơn, não trái thiên về suy tư, còn não phải cảm xúc.

Trong lá bài Nữ tư tế tối cao của Tarot, trụ đen tượng trưng não phải, trong khi trụ trắng tượng trưng não trái. Ở giữa là Nữ tư tế; áo khoác của bà phản chiếu bầu trời xanh sau tấm màn che. Thông điệp ẩn dụ cho thấy không thể tiếp cận trực tiếp cõi siêu việt, tượng trưng bởi bầu trời xanh, mà phải đi sâu vào trung tâm bản thể của mình để chọc thủng màn che của suy nghĩ và cảm xúc. Vương miện của bà có ba pha của Trăng và không Trăng, ý nói bà biết cả sống lẫn chết. Dưới chân bà là trăng lưỡi liềm, tượng trưng cái chết; khi Osiris chết, xác của ông được đặt trong quan tài có trăng lưỡi liềm, ý nói bà chinh phục được cái chết.
Dòng sông màu vàng đó chân bà và hai cây cột tượng trưng hai bờ luân hồi và niết bàn, chính là High Priestess. Vì vậy, trụ đen tượng trưng não phải hoặc trực giác, trụ trắng não trái hoặc logic, và Nữ tư tế tượng trưng cho năng lượng thuần khiết, phản ánh Luật Bộ Ba của tâm lý con người.
3.1: NÃO TRÁI – LOGIC
Theo cấu trúc của não bộ, một cách là suy tư của não trái, dẫn đến khoa học và triết học. Khoa học đã thú nhận vũ trụ chỉ là cái bóng của một thực thể ẩn khuất mà khoa học không thể biết được; và tuy khoa học làm cho đời đẹp, nó không thể giúp ta sống một đời có ý nghĩa. Triết học thì Sartre nhìn đâu cũng thấy muốn nôn. Và theo Camus, vấn đề triết học duy nhất quan trọng là tự sát. Về mặt thần kinh học, Tiến sĩ Iain McGilchrist, người có thẩm quyền lớn nhất thế giới, khẳng định rằng hầu hết mọi điều ta nghĩ về não bộ là sai. Vài ví dụ liên quan đến hoạt động của não trái:
- Não trái phụ thuộc nhiều vào logic, ngay cả khi logic của nó có thể sai, nó sẽ tìm mọi cách để che giấu hoặc bỏ qua những sai sót này;
- Não trái xử lý thông tin riêng lẻ và biệt lập, bỏ qua thực tế rộng lớn hơn. Bằng cách này, nó tạo ra một thế giới ảo và máy móc;
- Não trái tập trung vào các giải pháp đơn lẻ phù hợp những gì nó đã biết rồi bám lấy nó. Bất kỳ điều gì trái thiên kiến cũ đều bị từ chối;
- Não trái có khuynh hướng cực đoan: một khi nó đã có thiên kiến, nó chống lại bất kỳ thay đổi nào trái với quan điểm của nó. Những điều bất thường sẽ bị bỏ qua, hoặc không quan tâm;
- Não trái độc tài trong tư tưởng và hành động, ghê tởm những gì không chắc chắn;
- Não trái dựa vào thông tin hạn chế và nhanh chóng kết luận rồi coi đó là sự thật và sau đó khăng khăng kết luận đó là đúng.
3.2: NÃO PHẢI – TRỰC QUAN
Vậy thì con đường duy nhất khả thi là theo cảm xúc của não phải mà tìm lại tuổi thơ hồn nhiên, lúc ta sống theo trực quan. Nhiều nghiên cứu cho thấy từ lúc mới sinh đến khoảng năm tuổi, các em đều là những thiên tài. Khoảng 7-8 tuổi, chỉ còn khoảng 15%, và đến khoảng 30, còn khoảng 2%. Nhiều phát minh thay đổi lịch sử nhân loại đều dựa vào trực quan. Lý tính chỉ là giai đoạn sau, dùng để giải thích cho người khác hiểu, hoặc lập lý thuyết. Những nghiên cứu gần đây cho thấy khi não phải chủ động, cảm giác về không gian và thời gian biến mất cùng với cái tôi và vũ trụ.
3.3: TRỞ NGẠI 1: THƯỢNG THẬN
Cho nên suy tư hay não trái là con đường dẫn đến sự chết. Còn lại là cảm xúc, hay não phải, là con đường dẫn đến sự sống. Tuy nhiên, con người có cả suy tư và cảm xúc. Cặp đôi này tạo ra hai trở ngại rất khó vượt qua. Trở ngại thứ nhất giữ ta trong đời với ba nhu cầu cơ bản – ăn uống, sắc dục, và quyền lực. Ba nhu cầu này giữ ta trong đời vì bị tuyến thượng thận ngăn cản vì nhiều lý do (Hình 13).

Một là thượng thận tiết ra hoóc-môn Adrenaline khiến ta chiến đấu hay bỏ chạy để giữ mạng sống, đặc biệt trong những tình huống cần phản ứng nhanh chóng, như khi đối mặt với nguy cơ hoặc căng thẳng. Hai là ghen tỵ, một cảm giác tự nhiên nảy sinh khi thấy mình có nguy cơ mất đi thứ mà mình quan tâm. Từ góc độ tiến hóa, cảm xúc đó cần thiết để bảo vệ những nguồn tài nguyên quý giá giúp ta sống đời, do đó nó làm tim đập nhanh, cơ thể căng thẳng vì adrenaline dâng cao để bảo vệ nguồn tài nguyên đó! Nói chung, thượng thận là đầu mối của tham, sân, si. Vì thế nó là trở ngại đầu tiên ta phải vượt qua để đổi hướng đời từ não trái sang não phải, hay bỏ đời vào đạo. Điều này vô cùng khó vì sống trong xã hội, ta bị áp lực của đám đông phải thành công trong tài chánh để đảm bảo đời sống vật chất cho gia đình, phải có vợ đẹp, và phải có địa vị cao trong xã hội.
Nhưng cánh cửa mở ra cho những người trai tuổi từ 28-34. Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý Anh, những người trai trong lứa tuổi này đều có thôi thúc phải làm gì đó. Nếu trong khoảng thời gian này mà gặp một đại hồn xuất hiện, một số người trai can đảm đó sẽ nghe được tiếng chim gọi đàn, và sẽ đến với ngài và nhờ ngài mà vượt qua được trở ngại đó.
3.4: TRỞ NGẠI 2: TUYẾN TÙNG

Sau khi vượt qua được trở ngại này, thời gian dài tu thân tích đức sẽ dẫn ta đến trở ngại cuối cùng, giữa mê và ngộ. Trong giai đoạn này, những cám dỗ ở đời không hấp dẫn ta nữa, nhưng suy tư và cảm xúc vẫn còn, nghĩa là những gì ta biết, vẫn là giả dối vì suy tư và cảm xúc là màn che thế giới chân như. Màn che đó chính là tuyến tùng nằm tại giao điểm của não trái và não phải (Hình 14).
Trong thí nghiệm năm 1962 tại Đại học Boston, Timothy Leary và Richard Alpert chia sinh viên làm hai nhóm. Nhóm dùng giả dược không có báo cáo gì đặc biệt; nhưng nhóm dùng nấm ma (psilocybin) nằm ngổn ngang, có người đi quanh nhà nguyện lẩm bẩm, “Ta là Thiên Chúa!” hoặc “Ôi Linh thiêng!” Houston Smith, một học giả nổi tiếng với nhiều sách tôn giáo, nằm trong nhóm nấm ma, báo cáo, “Đó là lần trở về vĩ đại mà tôi đã may mắn trải qua.”
Thí nghiệm đó cho thấy khi giác quan tê liệt, tuyến tùng hé mở cho ta thoáng nhìn về thế giới chân như, nhưng suy tư và cảm xúc vẫn còn. Thế thì trong lúc chờ tuyến tùng mở ra, làm cho giác quan ngừng hoạt động mà gặp một đại hồn tạo cơ hội cho cái phản thiên nhiên xảy ra, cái luôn luôn hiện diện nhưng trước đây bị giác quan che lấp tự lộ ra. Đó là giải thoát, giải thoát khỏi suy tư và cảm xúc, thoát khỏi luân hồi. Khi cặp đôi này biến mất, ta sẽ lọt vào thế giới chân như, cực lạc. Một sự kiện tối quan trọng về tuyến tùng cần phải biết. Tuyến tùng nằm giữa khe hở của hai não và từ đó người chết vào thế giới bên kia (Hình 14). Người chết bất đắc kỳ tử mắt không nhắm lại được vì lúc chết, hồn phải trở vào trong, theo tuyến tùng mà ra khỏi xác. Thánh nhân khi vào thiền định là lúc thể xác ngài chết trong lúc tuyệt đối tỉnh thức. Phụ nữ khi cực khoái cũng tạm thời chết, mắt hé mở rồi nhắm lại tiếp.
3.5: ĐƯỜNG VỀ 7 ĐOẠN, 5 KHÚC
Thế thì con đường trở về có năm đoạn. Đoạn thứ nhất gồm ba đoạn nhỏ: ăn uống, sắc dục, quyền lực. Đoạn thứ hai là ranh giới đạo-đời ngay tại tuyến thượng thận. Đoạn thứ ba giữa tuyến thượng thận và tuyến tùng. Đoạn thứ tư là ranh giới mê-ngộ ngay tại tuyến tùng. Và đoạn thứ năm bên trên tuyến tùng, là thế giới chân như, tuyệt đối. Con đường năm đoạn với một trở ngại tại đoạn thứ hai và một tại đoạn thứ tư chính là một quãng tám. Được mô tả trong Lễ Cân Tim Người Chết (Hình 15).

Thần Thoth bên phải của hình là não trái. Nữ thần Maat bên trái cân là não phải. Bên trái của Maat là hồn người chết được thần chết Anubis đầu chó dẫn đi đầu thai vì tim anh (bên phải) trục cân nặng hơn cá lông tượng trưng vô dục, vô cầu, và vô niệm. Tay trái Maat cầm chìa khoá sự sống ANKH là biểu tượng của tuyến tùng (Hình 14). Thế thì bí mật là phải theo não phải hay tay trái của Maat mà vào nội tâm, rồi vượt qua tuyến tùng mà vào cảnh giới chân như, phúc lạc mà giải thoát. Những quả đấm trên trục cân có ý nghĩa như sau:
Quả đấm 1 là nhu cầu ăn uống, hai là nhục dục, ba là quyền lực, mỏ con thú là tuyến thượng thận, quả đấm 4 là tìm được cân bằng trong đời; 5 là từ bi phát khởi khi tâm trí cân bằng; 6 là có được thoáng nhìn về thế giới siêu việt; 7 là bắt đầu ẩn tu để hiện thực hóa thoáng nhìn đó; đòn cân là tuyến tùng, mặc dù đã có thoáng nhìn, suy tư và cảm xúc vẫn còn, nghĩa là não trái và não phải vẫn hoạt động. Quả đấm bên trên đòn cân chính là thế giới siêu việt. Điều này chỉ xảy ra khi thiền nhân tuyệt đối tỉnh thức trong lúc thể xác chết, và lúc đó não bộ tê liệt, giác quan tạm thời ngưng hoạt động. Đó là định nghĩa của giải thoát –thoát khỏi suy tư và cảm xúc.
Giác ngộ là tuyệt đối tỉnh thức trong lúc thể xác chết. Bí mật này Ai Cập đã biết từ nhiều ngàn năm trước trong thần thoại Mắt Horus mà gần đây thần kinh học mới khám phá ra (Hình 16).

Mắt Horus có những thành phần như sau: Mũi (1/2), Mắt (1/4), Tâm trí (1/8), Tai (1/16), Lưỡi (1/32), Tay (1/64). Đó là thế giới cụ thể (5 giác quan) và trừu tượng (tâm trí). Nếu cộng những thành phần này lại sẽ có 63/64:

Thế thì một cơ quan không có trong Mắt Horus có thể nhận ra cái không cụ thể, cũng không trừu tượng. Đó là tuyến tùng. Nó chỉ mở ra khi Mắt Horus tê liệt, tức là thể xác phải chết trong lúc tuyệt đối tỉnh thức. Khi tỉnh thức trong lúc thể xác chết, ta sẽ nhận ra cái không tùy thuộc giác quan. Đó là chân lý, là sự sống.
PHẦN 4 – KINH DỊCH AI CẬP
KINH DỊCH VÀ GIÁC NGỘ
Kinh Dịch và giác ngộ. Ra đi và trở về của vạn vật từ một nguồn chung Kinh Dịch cũng biết, nhưng thánh hiền Đông phương không nhận ra, trong đó có những tên tuổi như Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, Thiệu Ung, Chu Hi… Từ nhiều ngàn năm qua, trí thức Viễn Đông dồn hết tâm lực nghiên cứu Kinh Dịch và coi đó là sách bói toán, mà không biết đó là một trong những pháp môn thâm thuý nhất của nhân loại. Vài chi tiết có thể bàn qua ở đây, bao gồm não bộ, Luật Số Ba, Luật Số Bảy, Tia sáng tạo, tuyến thượng thận, và tuyến tùng.
4.1: NÃO TRÁI, NÃO PHẢI
Quẻ Thủy Hỏa Kí tế 63, hào 5 viết, “Hàng xóm bên Đông mổ trâu ăn mừng. Còn hàng xóm bên Tây tế lễ sơ xài mà thực sự được phúc.” Đông là nữa phải của cơ thể thuộc về não trái. Não trái thiên về logic, suy tư, lập luận. Đó là thế giới của triết học, khoa học, kỹ thuật. Mổ trâu ăn mừng là dấu hiệu của tiệc lớn, giầu sang, sung túc. Tây là nửa trái của cơ thể thuộc về não phải. Não trái dẫn ta vào xã hội và lạc trong danh vọng và quyền lực. Não phải dẫn ta vào nội tâm, theo tuyến tùng mà thoát khỏi ràng buộc của giác quan, của suy tư và cảm xúc mà nhận ra cái bất sinh, bất tử. Đó mới thực sự có phúc.
4.2: LUẬT SỐ BA
Luật Số Ba là bộ ba tạo nên mọi sinh vật trên quả đất. Thay vì Trời, Đất, Trăng, Trung Quốc gọi là Thiên, Nhân, Địa. Đó là lầm lẫn tai hại. Như đã bàn bên trên, không có Trăng, tuyệt đối không có sự sống. Hậu quả là Trung Quốc không biết sự sống diễn ra thế nào, cũng không biết đường về và hai trở ngại tại tuyến thượng thận và tuyến tùng.
4.3: LUẬT SỐ BẢY
Quy luật này dấu trong hai quẻ Địa Lôi Phục và Sơn Phong Cổ. Cổ có nhiều nghĩa, đổ vỡ (decay), thay đổi tần số biến đổi, lệch hướng… Thoán từ quẻ Phục viết, “Trở lại là Đạo. 7 ngày trở lại.” Trung Quốc giải thích là từ Cấu, tháng 5, đến Phục, tháng 11 là 7. Từ 5 đến 11 mới có 6 mà nói 7! Thế thì bảy ngày trở lại là quãng tám. Từ Đô của quãng tám này đến Đô của quãng tám sau là 7 – Đô-Re-Mi-Pha-Sol-La-Si-Đô. Trong 7 khúc này có hai trở ngại giữa Mi-Pha và Si-Đô. Thoán từ quẻ Cổ viết, “Giáp trước 3 ngày, giáp sau 3 ngày” (Tiên giáp tam nhật, hậu giáp tam nhật). Trung Quốc giải thích “Giáp trước 3 ngày là Tân – Tân, Nhâm, Quý, Giáp. Và sau “giáp 3 ngày” là Đinh – Giáp, ất, bính, đinh. Lần này từ Giáp đến Đinh là 3, không phải 4, như từ 5 đến 11.
Điều này không đúng! Nếu gắn mỗi ngày với một Can, tức là 10 ngày trở lại – từ Giáp này đến Giáp kia là 10, không phải 7 ngày trở lại theo quẻ Phuc. Hơn nữa, Trung Quốc gọi chu kỳ 10 ngày là Thập thiên căn, tức là 10 rễ trời, gồm có: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Vấn đề lớn là chu kỳ mới bắt đầu tại Giáp mà đã lệch hướng rồi, sao chu kỳ đó có thể hoàn tất được?
Vậy thì “Giáp trước 3 ngày, và sau giáp 3 ngày” là gì? Chu kỳ mới bắt đầu tại Đô, đến Re, Mi, thì đổ vỡ (Cổ, thay đổi, lệch hướng) tại Pha. Trước Pha 3 ngày – Mi, Re, Đô, đã có đổ vỡ (thay đổi) tại Si-Đô của quãng tám trước. Và sau Pha 3 ngày – Sol, La, Si, sẽ có thay đổi tại Si-Đô. Thế thì trong một quãng tám có hai thay đổi tại Mi-Pha và Si-Đô, tức là mỗi quãng tám có 4 đoạn: Đô-Re-Mi; Mi-Pha; Pha-Sol-La-Si; và Si-Đô (Bảng 1).

4.4: 64 QUẺ DỊCH

Hình 4 bao gồm 3 quãng tám, và mỗi quãng tám có 4 khúc như trong Bảng 1. Nếu kí hiệu quãng tám Đạo-Tròi là Tròi, quãng tám Trời-Đất là Đất, quãng tám Đất-Trăng, và 4 khúc của quãng tám gọi là Tứ tượng, gồm có: thái âm, thiếu âm, thiếu dương, và thái dương (Bảng 1, cột 4), Hình 4 có thể kí hiệu như Hình 17. Ba thanh ngang trong hình đó là Trời, Đất, và Trăng. Còn 4 đuôi bên dưới là thiếu âm, thiếu dương, và thái dương.

Đó là đồ hình rút gọn của Kinh Dịch, hay đồ hình của Tia sáng tạo, không phải chữ “Kinh Dịch” mà từ lâu nhiều học giả đã hiểu lầm. Với đồ hình đó, lấy Tứ tượng của quãng tám Trời kết hợp với Tứ tượng của quãng tám Đất sẽ có 16 phần tử, mỗi phần tử có 4 vạch hoặc liền, hoặc đứt. Sau đó lấy 16 phần tử đó kết hợp với Tứ tượng của quãng tám Trăng sẽ có 64 trùng quái.
Thế thì 64 trùng quái đó kết hợp bằng công thức 64 bằng 4 nhân 4 nhân 4 (Hình 18), và nó giải thích được vì sao hào 1-2 thuộc Trăng, 3-4 thuộc Đất, và 5-6 thuộc Trời. Cấu trúc này khác hẳn phương pháp tạo trùng quái của Trung Quốc là 64 là 8 nhân 8. Phương pháp của Trung Quốc không giải thích được vì sao 6 hào của một quẻ được chia làm 3 loại: hào 1-2 thuộc Địa, 3-4 thuộc Nhân, và 5-6 thuộc Thiên.

4.5: BÁT QUÁI
Sau khi có 64 trùng quái, dựa theo phương pháp của Descartes biến một trường hợp phức tạp thành nhiều trường hợp đơn giản để dễ giải quyết. Theo phương pháp đó, cắt đôi 64 trùng quái sẽ cho tám đơn quái, gọi là bát quái. Bát quái có hai thứ tự. Tiên Thiên Bát Quái là 4 loại sức mạnh đối xứng nhau và hiện diện mọi nơi, không tùy thuộc thời gian. Bốn cặp đối đó là Càn-Khôn, Đoài-Cấn, Ly-Khảm, Chấn-Tốn (Hình 19). Hậu Thiên Bát Quái là một quy trình biện chứng từ khởi đầu đến chung cuộc, bắt đầu từ Chấn-Tốn-Ly-Khôn-Đoài-Càn-Khảm-Cấn (Hình 20).


4.6: BỐN LẦN RỒNG BIẾN HOÁ
Trong Hình 15, Cân tim người chết, trục cân có 8 quả đấm, và giữa quả 3 và 4 là mỏ con thú mông heo, mình người, đầu cá sấu, và giữa quả 7 và 8 là đòn cân. Cho nên trục cân là một quãng tám với mỏ con thú là trở ngại Mi-Pha, còn đòn cân là trở ngại Si-Đô. Hai trở ngại này chia quãng tám thành 4 khúc. Bốn khúc đó là 4 lần biến hoá của rồng, Bảng 3.


4.6.1: RỒNG CÒN ẨN
Rồng Còn Ẩn: Đô-Re-Mi. Thủy Thiên Nhu, 5 hào 6 có câu, “Ba người khách thủng thẳng tới.” Ba người đó là ăn uống tại Đô, dục tại Re, và quyền lực tại Mi. Nhưng sao thủng thẳng? Sinh ra đòi ăn liền; dục phải 13-14 tuổi mới xuất hiện; quyền lực thì hơn 20 mới phát khởi. Đó là nhu cầu sinh học, phải thoả mãn hoàn toàn trước khi nhu cầu tâm linh xuất hiện. Người nào đi tu trước khi những nhu cầu này thoả mãn là tu vì lý do kinh tế hay tâm lý, không phải tâm linh.
4.6.2: RỒNG TRÊN ĐỒNG
Rồng trên đồng: Mi-Pha. Rồng trên đồng, gặp đại nhân rất tốt. Tâm lý học nói rằng những người trai trong lứa tuổi 28-34 có một khủng hoảng phần tư đời, đòi hỏi phải làm gì đó. Phần đông, khủng hoảng đó sẽ qua đi vì tuyến thượng thận giữ họ trong đời. nhưng một số nhỏ cảm thấy thôi thúc đó mãnh liệt và phải lên đường tìm gì đó nhưng không biết tìm gì, tìm ở đâu. Nếu lúc đó may mắn sinh vào lúc một thánh nhân xuất hiện, Ngài sẽ giúp ta bỏ đời vào đạo – gặp đại nhân rất tốt. Vài thí dụ. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên nghe câu kệ của A Thuyết Thị mà bỏ đời vào đạo. Angulimala nhờ Phật mà quy y Phật. Valmiki nhờ Naropa mà bỏ đời vào đạo. Nhiều đệ tử Chúa đang đánh cá trên sông. Ngài bảo họ, “Hãy theo ta đánh cá người.” Lập tức họ bỏ thuyền, bỏ lưới và theo Ngài.
4.6.3: RỒNG TRÊN TRỜI
Rồng trên trời: Pha-Sol-La-Si. Hào 5 quẻ Càn nói, rồng ở trên trời, gặp được người thông thái rất có lợi. Sau một thời gian dài tu thân tích đức, bạn đứng trước ngưỡng cửa của mê và ngộ. Đó là ý nghĩa của rồng trên trời. Ở giai đoạn này, suy nghĩ và cảm xúc vẫn còn mà bạn không thể tự loại bỏ chúng. Nếu bạn may mắn gặp một thánh nhân, ngài có thể tạo điều kiện để biến hai não thành một, làm cho suy tư và cảm xúc tan biến. Bạn sẽ nhận ra bản chất chân thực của mình; do đó, gặp được đại nhân rất có lợi. Tuy nhiên, nếu không thoát khỏi suy tư và cảm xúc của mình, bạn sẽ tiếp tục tái sinh cho đến khi bạn đóng được Mắt Horus của mình. Đô đó, luân hồi xảy ra ở hai điểm: tuyến thượng thận và tuyến tùng.
4.6.4: RỒNG QUÁ CAO
Rồng bay quá cao: Si-Đô. Rồng bay quá cao có điều hối lỗi, Càn, hào 6. Giác ngộ hay giải thoát là một biến cố phản tự nhiên, bởi vì tâm trí ta luôn luôn giao động giữa suy tư và cảm xúc mà không có cách nào trực tiếp làm chúng biến mất. Thế thì ta phải nhờ một thánh nhân tiếp sức để cái phản thiên nhiên đó xảy ra. Phương pháp thường dùng là tạo ra cái sốc để hai não thành một. Chúa nói trong Phúc âm Tô-Ma, “Biến hai thành một… các ông sẽ vào được Nước Trời.” Biến hai thành một là não trái không vướng trong suy tư, và não phải thoát khỏi cảm xúc. Trong Tâm Kinh, Quán Thế Âm khai ngộ cho Xá Lợi Phất bằng cách bác bỏ toàn bộ giáo lý của Phật giáo – Tứ Diệu Đế, thập nhị nhân duyên,..v.v. Trong Tarot, lá Justice, đạo sư cầm kiếm đôi, mục đích tạo ra sốc để ta giật mình. Hai cột xám hai bên tượng trưng hai não xám, ý nói hai não đã thành một; cân thăng bằng cũng tượng trưng suy tư và cảm xúc đã biến mất. Phương pháp của Chúa có lẽ độc đáo nhất. Ngài không khai ngộ cho một người, mà cho cả đám, bằng cách thản nhiên chọn cái chết thảm khốc nhất ngay giữa đám đông. Từ lúc Chúa bắt đầu bị đóng đanh, đến lúc Ngài tắt thở, đám đông quan sát thất kinh, phổi quên thở, tim ngừng đập, suy tư và cảm xúc biến mất; giác quan tê liệt trong lúc tuyệt đối tỉnh thức.
Vì sao có điều hối lỗi? Khi suy tư và cảm xúc biến mất là lúc thể xác ta chết trong lúc tuyệt đối tỉnh thức, cái tôi biến mất, dù muốn chia sẻ kinh nghiệm của mình không còn thể xác để nói. Thể xác chết là lúc tuyến tùng mở ra, ta lọt vào thế giới chân như, cực lạc. Sau khi giác ngộ, Phật đã im lặng một tuần vì không thể nói được cái mình đã trải qua. Phi-La-Tô hỏi Chúa, “Chân lý là gì.” Chúa im lặng. Có người hỏi Osho, “Hồn nhiên là gì?” Im lặng một lúc, Ngài đứng lên, kết thúc buổi nói chuyện.
4.6.5: RỒNG KHÔNG ĐẦU
Rồng không đầu: Đô. Càn, dụng cửu viết, “Thấy bầy rồng không đầu. Rất tốt.” Đầu tượng trưng cho vai trò kép của não là suy nghĩ và cảm xúc, tạo ra cảm giác sai lầm về cái tôi. Khi tuyến tùng mở ra, cơ thể tạm thời chết, cái tôi biến mất cùng với suy tư và cảm xúc. Đó là giải thoát, giải thoát khỏi suy tư và cảm xúc. Đó là giác ngộ, là nhận ra bổn lai diện mục của mình. Một chi tiết nhỏ nhưng cực kỳ quan trọng cần lưu ý ở đây. Không giống như các hào trong một quẻ là liền hoặc đứt, “Dụng cửu” không phải là hào, vì nó nằm ngoài phạm vi của Luật Số Ba và Luật Số Bảy. Đó là những quy luật của thế giới hữu hình, nghĩa là giác ngộ, hay giải thoát là một biến cố nằm ngoài không gian và thời gian, nghĩa là không có người, chẳng có ta. Tất cả đều là Đạo.
KẾT LUẬN
Kinh Dịch là nguồn tri thức bí truyền cổ xưa, nhưng trong nhiều ngàn năm, nó đã được dùng như một công cụ bói toán. Những khám phá khoa học gần đây giúp giải mã các bí mật của nó liên quan đến vũ trụ và con người. Khác những tôn giáo hiện đại, Kinh Dịch không có giáo điều và có thể được xác thực theo khoa học mà không cần thờ cúng hay nghi lễ. Thách thức chính là vượt qua hai trở ngại tại tuyến thượng thận và tuyến tùng, thường bị các tôn giáo hiện đại bỏ qua. Hướng dẫn của một thánh nhân đã giác ngộ rất quan trọng, trừ khi bạn là người phi thường như Đức Phật hoặc Chúa Giê-su. Cuối cùng, Kinh Dịch khuyến khích bạn chấp nhận cuộc sống hoàn toàn, và điều đó làm danh vọng và quyền lực mất sức hấp dẫn, dẫn đến bình yên bên trong bạn.
Kinh Dịch do đó là một tôn giáo phi tôn giáo. Những kiến thức bí truyền của nó dần dần được bộc lộ theo một kế hoạch thiêng liêng. Một ví dụ điển hình là kinh điển đồ sộ của Phúc âm Ngộ đạo đã được tình cờ phát hiện ở Ai Cập năm 1945. Trong trường hợp của Kinh Dịch, pháp sư George Gurdjieff đầu thế kỷ 20 đã giới thiệu các khái niệm như Tia sáng tạo, Luật Số Ba và Luật Số Bảy. Sau đó, khám phá DNA vào những năm 1950 đã liên kết giáo lý của Gurdjieff với cấu trúc của vũ trụ, tế bào sống, Kinh Dịch, Tarot và chiêm tinh học. Roger Sperry khám phá cấu trúc não bộ trong những năm 1960. Sau đó phương pháp quan sát hoạt động của não bộ vào những năm 1980. Cuối cùng Google cho phép truy cập các tài liệu trên toàn thế giới để kết nối các khám phá khoa học với Kinh Dịch, Tarot, giáo lý Gnostic, v.v.
Những bài học thiết yếu từ Kinh Dịch khẳng định rằng bạn là chủ nhân của vũ trụ, và không kiếm cứu rỗi bên ngoài và nuôi dưỡng những nhu cầu cơ bản của chính mình, quẻ Nhu số 5, hào 6. Nếu nhu cầu của bạn không được đáp ứng, xung đột bên trong sẽ nảy sinh, dẫn đến việc tìm kiếm kẻ thù bên ngoài; điều này giải thích vì sao chiến tranh xảy ra triền miên. Thiếu bình yên và hạnh phúc bên trong sẽ buộc bạn tìm thỏa mãn bên ngoài, dẫn đến chiến tranh và hủy diệt bất tận, thường là do ảnh hưởng của tôn giáo.
(Hết)

