- DẪN NHẬP
- BÁT QUÁI VÀ ÂM DƯƠNG
- 64 TRÙNG QUÁI VÀ 64 MÃ DI TRUYỀN
- NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA 12 CON GIÁP
- 12 CON GIÁP ĐÔNG PHƯƠNG
- NGŨ HÀNH
- NGUỒN GỐC SUMER CỦA NGŨ HÀNH
- LỤC TUẦN HOA GIÁP
- KẾT LUẬN
DẪN NHẬP
Nói đến Trung Quốc, lập tức ta nghĩ đến âm dương, ngũ hành, bát quái, can, chi, bói toán, phong thủy, và địa lý. Những khái niệm Trung đông này đã được nhập khẩu vào Trung Quốc cách đây nhiều ngàn năm, nhưng vì thiếu triết lý nền tảng, Trung Quốc dùng những khái niệm này để thiết lập những hệ thống rất phức tạp và mâu thuẫn mà họ không nhận ra. Thí dụ, ngũ hành ban đầu là một phương pháp đếm, lấy số 60 làm gốc của văn minh Sumer. Con số 60 đó ngày nay cả thế giới vẫn dùng mà nhiều người không biết; thí dụ Sumer chia mỗi giờ thành 60 phút, mỗi phút 60 giây; tam giác lý tưởng nhất là tam giác đều có ba cạnh, mỗi cạnh 60 độ, vòng tròn 360 độ là 6 lần 60 độ. Số 60 này qua Trung Quốc biến thái thành chu kỳ 60 năm, gọi là lục tuần hoa giáp. Nói cách khác, Trung Quốc có hai chu kỳ, chu kỳ lớn là 12 năm của 12 con giáp, và chu kỳ lớn 60 năm, dựa vào 10 thiên căn và 12 địa chi (hay 12 con giáp); 10 thiên căn là một hình thức khác của ngũ hành. Nhưng dựa vào đâu mà có 12 năm, hay 60 năm? Hai chu kỳ này xây trên lý thuyết ngũ hành nhưng phản khoa học vì chúng không xây trên bất cứ nền tảng triết học hay khoa học nào cả. Đối với khoa học, trái đất có 2 chu kỳ, nhỏ và lớn. Chu kỳ nhỏ dài 12 tháng, mỗi tháng qua một cung chiêm tinh, còn chu kỳ lớn kéo dài 25920 năm; trong 25920 năm, cứ 2160 năm, ngày Xuân phân luôn luôn xảy ra tại một cung hoàng đạo, và hết 2190 năm, ngày Xuân phân lại xảy ra trong cung kế tiếp. Cho nên, nếu ngũ hành bị đánh đổ, toàn thể triết lý Trung Quốc mất hẳn giá trị, kéo theo những khoa học nhảm nhí như tử vi đẩu số, bói dịch, mai hoa dịch số, độn giáp, thái ất, vân, vân…. Tất cả chỉ vì hiểu lầm âm dương, bát quái.



ÂM DƯƠNG, BÁT QUÁI
Nếu không hiểu nền tảng triết lý và khoa học của Kinh Dịch, nhìn trên bề mặt ta sẽ nghĩ mỗi trùng quái, hay mỗi quẻ Dịch được cấu tạo bằng cách lấy hai bát quái chồng lên nhau. Thí dụ quẻ Thiên Địa Bỉ, số 12, có ngoại quái là Thiên (Càn) gồm ba gạch liền, và nội quái là Địa (Khôn) có ba gạch đứt. Tương tự. Địa Thiên Thái, số 11, có ngoại quái là Địa với ba gạch đứt, còn nội quái là Thiên có ba gạch liền. Sự kiện lấy hai bát quái chồng lên nhau dẫn đến truyền thuyết Phục Hi thấy trên lưng long mã trên Hoàng hà có tám vạch mà vẽ ra tám hình, gọi là bát quái (Hình 1). Sau đó ông chồng hai bát quái lên nhau mà có 64 quẻ Dịch, hay 64 trùng quái. Hành động lấy hai bát quái chồng lên nhau đã dấy lên câu hỏi, vì sao không chồng ba hay bốn bát quái lên nhau mà chỉ chồng hai. Có người trả lời rằng nếu làm thế sẽ rối bòng bong. Hơn nữa, thứ tự của các quẻ Dịch không theo thứ tự của Phục Hi. Đó là dấu hiệu Kinh Dịch của Trung Quốc chẳng có nền tảng triết lý hay khoa học nào cả.

Sự kiện lấy hai bát quái chồng lên nhau dẫn đến thuyết âm dương. Học giả Kinh Dịch cho rằng trong thế kỷ 4 trước tây lịch, Trâu Diễn đã đề xướng học thuyết đó. Thật ra, thuyết âm dương ra đời vì hiểu lầm các quẻ Dịch; họ cho rằng mỗi quẻ Dịch có sáu hào, mỗi hào có hai loại vạch: dương là vạch liền; âm là vạch đứt. Thuyết âm dương dẫn đến học thuyết cho rằng âm dương từ vô cực, thái cực mà có theo công thức: Vô cực sinh Thái cực; Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh bát quái; Bát quái sinh 64 Trùng quái.
Trong công thức nói trên, Lưỡng nghi gồm âm (vạch đứt) và dương (vạch liền); Tứ tượng là bốn cặp đôi, hoặc liền, hoặc đứt; bốn cặp đôi đó là Thái âm (hai vạch đứt), Thiếu âm (vạch liền bên trên, vạch đứt bên dưới), Thiếu dương (vạch liền bên dưới, vạch đứt bên trên). Sau khi có Tứ tượng, chồng Lưỡng nghi lên mỗi Tứ tượng sẽ bát quái. Thí dụ, chồng vạch dương lên Thái dương sẽ có Càn quái, và chồng vạch đứt lên Thái dương sẽ có Đoài quái; rồi chồng vạch liền lên Thiếu âm sẽ có quái, và chồng vạch đứt lên Thiếu dương sẽ có Chấn quái, vân. vân (Hình 2). Cuối cùng, chồng hai bát quái lên nhau sẽ có 64 bằng 8 nhâh 8 trùng quái, hay 64 quẻ.
Như vậy, hai phương pháp nói trên dùng để thiết lập 64 quẻ đều lấy hai bát quái chồng lên nhau. Tuy nhiên, nhiều ngàn năm đã qua mà không ai biết, kể cả Khổng Tử, rằng có một lỗ hổng lớn trong Dịch học. Trước hết, có ba cách để có 64. Một là 64 bằng 8 nhân 8, tức là lấy hai bát quái chồng lên nhau; đó là phương pháp của Phục Hi. Hai là lấy 6 lưỡng nghi chồng lên nhau, tức là 64 bằng 2 lúy thừa 6; đó là phương pháp của Trâu Diễn. Phương pháp thứ ba là lấy ba tứ tượng chồng lên nhau, tức là 64 bằng 4 lũy thừa 3; đó là phương pháp của DNA, lấy 4 axit cơ bản A, C, T, G chồng lên nhau. Kinh Dịch cũng theo công thức 64 bằng 4 lũy thừa 3, lấy 3 Tứ tượng chồng lên nhau. Trong ba phương pháp này, phương pháp của DNA tối ưu nhất. Theo phương pháp của Phục Hi, để tìm ngoại quái, ta phải tìm trung bình 4 lần (8 chia 2), tìm trung bình 4 lần tìm ngoại quái, tức là ta phải tìm trung bình 16 = 8 nhân 2 lần để tìm được một quẻ Dịch. Phương pháp của Trâu Diễn phải mất trung bình 1.5 lần để có một hào, và mât 6 lần 1.5 bằng 26 lần để tìm một quẻ. Phương pháp của DNA, 64 bằng 4 lũy thừa 3, mất trung bình 2 (4 chia 2) để tìm một axit, 2 lần tìm axit thứ hai, và 2 lần cho axit thứ ba, tức là chỉ cần 8=2 lũy thừa 3 để tìm một axit amino, gồm 3 axit cơ bản.
Thay vì A, C, T, G của DNA, Kinh Dịch lấy 3 Tứ tượng chồng lên nhau để có 64 trùng quái. Như vậy, cấu trúc của DNA và Kinh Dịch hoàn toàn giống nhau.

Thế thì phương pháp tối ưu nhất để có 64 là lấy 4 nhân 4, rồi nhân 4. Về mặt toán học, có hai cách để chọn kí hiệu để diễn tả 4 trường hợp. Một là dùng 4 kí hiệu. DNA dùng 4 axit cơ bản A, C, T, G. Hai là dùng 2 kí hiệu, chẳng hạn 0 và 1, Phương pháp này diễn tả 4 trường hợp như sau:
1 = 00, 2 = 01, 3 = 10 , 4 = 11.
Theo phương pháp này, hai kí hiệu 0 và 1 không thể đứng một mình, vì 0 không có 1 thì vô nghĩa. Đó là hai kí hiệu các máy computer ngày nay đang dùng. Vấn đề là hai kí hiệu 0 và 1 không gợi cho ta hình ảnh nào. Vì vậy, thay vì 0 và 1, Kinh Dịch dùng vạch đứt, tương đương 0, và vạch liền, tương đương 1 (Bảng 1, cột 6). Theo phương pháp này, hai vạch đứt và vạch liền không thể tách rời nhau, nghĩa là không thể độc lập với nhau. Kết quả là hai vạch đứt và liền của Kinh Dịch không phải âm và dương của Trâu Diễn vì âm, dương có thể độc lập với nhau. Hơn nữa, âm và dương là hai thái cực khác nhau của một hiện tượng, và do đó chúng không thể hiện được các hiện tượng thiên nhiên. Thí dụ, giữa trắng (dương) và đen (âm), có thể có vô số sắc thái khác nhau. Trong nhân của một nguyên tử có dương điện tử điện tích dương và âm điện tử điện tích âm, và trung hòa tử không có điện tích. Và trong thế giới vi mô, hạt neutrino không có điện tích. Con người có nam là dương và có nữ là âm, nhưng ngày nay giữa nam và nữ có L B G T Q.
Kết cục là thuyết âm dương không thể phản ánh thực tại khách quan.




64 TRÙNG QUÁI VÀ 64 MÃ DI TRUYỀN
Phương pháp dùng vạch đứt và vạch liền để diễn tả 4 trường hợp là phương pháp Kinh Dịch đã dùng: Hào 1 và 2 thuộc Trăng, 3 và 4 thuộc Đất, và 5-6 thuộc Trời. Trong Hình 3, ba thanh ngang tượng trưng, theo thứ tự, Trời, Đất, Trăng, còn 4 đuôi bên dưới tượng trưng Thái âm, Thiếu âm, Thiếu dương, và Thái dương. Đồ hình Kinh Dịch, Hình 3, cho ta công thức 64 bằng 4 lũy thừa 3 (Hình 4). Trong công thức đó, 4 là Tứ tượng, ba lần 4 là ba thanh ngang tượng trưng Trời, Đất, Trăng.
Hình 3 cũng có thể trở thành Hình 5 với 3 đầu là Chữ cái 1, Chữ cái 2, và Chữ cái 3. Còn 4 đuôi là 4 axit A, C, T, G. Mà nếu lấy 4 axit A, C, T, G của Chữ cái 1 kết nối với 4 axit của Chữ cái 2, ta sẽ có 16 bằng 4 nhân 4 cặp đôi. Sau đó lấy 16 cặp này kết nối với 4 axit của Chữ cái 3, ta sẽ có 64 bộ ba, với 64 bằng 16 nhân 4. Đó là 64 mã di truyền của DNA (Hình 6). Sự kiện này bác bỏ thuyết Tam tài của Trung Quốc, gồm bộ ba Thiên, Nhân, Địa, bởi vì DNA là khối xây dựng nên các sinh vật, trong đó có con người, nghĩa là bộ ba của Tam tài phải là Trời, Đất, Trăng.


Tóm lại, phương pháp của Kinh Dịch để có 64 trùng quái là lấy 3 Tứ tượng chồng lên nhau, không phải lấy hai bát quái chồng lên nhau. Điều này Trung Quốc đã hiểu lầm. Và khi đã có 64 trùng quái, cắt đôi 64 trùng quái này sẽ cho ta 8 hình, gọi là bát quái (Hình 1). Theo phương pháp này, ta có thể đặt tên cho 64 trùng quái, bằng cách dùng tên của bát quái bên trên (hào 4, 5, 6), và bát quái bên dưới (hào 3, 2, 1), và nó cho ta một hình ảnh nào đó. Thí dụ, Sơn là núi bên trên, và Thủy là nước bên dưới. Trên là núi hay Sơn, dưới là nước hay Thủy. Hình ảnh này cho ta cảm giác của người lạc đường, mất phương hướng, hay mông lung, Mông. Cho nên trên Sơn, dưới Thủy là quẻ Sơn Thủy Mông. Thí dụ khác. Trên là Thủy hay nước, dưới là Thiên hay trời. Nước hay Thủy trên trời hay Thiên cho ta hình ảnh về mưa. Nước trên trời mưa xuống trở thành thức ăn, hay Nhu, nuôi vạn vật. Cho nên Thủy trên, Thiên dưới là quẻ Thủy Thiên Nhu (nhu nghĩa là thức ăn). Bằng cách đó ta có thể đặt tên cho 64 quẻ Dịch.
NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA 12 CON GIÁP
Ngoài 64 quẻ Dịch, đồ hình Kinh Dịch (Hình 3) có thể dùng để thiết lập 12 con giáp. Một điều ít người biết là 12 con giáp này có gốc từ Trung đông, vì đó là “một vòng tròn các động vật.” Đó là cụm từ dịch từ chữ zodiakos của Hy Lạp mà chúng ta gọi tắt là Hoàng Đạo, để chỉ các chòm sao cố định trên đường mặt trời đi qua hàng năm. zodiakos là từ Hy Lạp có gốc từ chữ zo-on, nghĩa là “một con vật.” Sự kiện này hoàn toàn phù hợp với 12 con giáp của Trung Quốc, hơn là tây phương. Trong khi tên của 12 chòm sao tây phương có 4 chòm không phải con vật là: Xử nữ, Thiên Bình , Song Nam và Bảo Bình, 12 con giáp của Trung Quốc hoàn toàn là động vật.
Nhưng dựa vào đâu mà Trung Quốc có 12 con vật? Chuyện kể rằng trong ngày sinh nhật của mình, Hoàng đế bảo các động vật đua nhau lội qua sông, và 12 con qua bờ trước sẽ được chọn. Trong thần thoại này, khác với 12 con giáp của Việt Nam, mèo không được chọn, và 12 con theo thứ tự: tý, sửu, dần, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo.
Theo thói quen xưa nay của Trung Quốc, khi gặp những trường hợp không thể giải thích được, họ phịa ra những thần thoại để dấu một sự thật là họ không biết. Thí dụ, vì không giải thích được cấu trúc của Kinh Dịch, họ phịa ra chuyện Phục Hi thấy con long mã trên lưng có 8 vằn ở sông Lạc nên mới lập ra bát quái. Mười hai con giáp này cũng thế. Mặc dù họ đã có thể lừa được nhân loại từ nhiều ngàn năm qua, có vài chi tiết quan trọng thần thoại này không giải thích được.
Trước hết, thần thoại này không giải thích được vì sao 12 con giáp này được chia làm hai nhóm. Từ Dần đến Thân là thú rừng, và từ Dậu đến Sửu là thú nhà. Ngoài ra, trong 12 con giáp, Thìn, hay rồng có thể bay, có thể lặn dưới nước, và có thể sống dưới đất. Còn những con khác đều là thú trên đất. Đó là cọc cạch, không cùng loại. Thay vì rồng, Ai Cập gọi là kỳ đà. Hơn nữa, cho đến nay vẫn chưa có một giải thích nào hợp lý về liên hệ của mỗi con giáp đối với tất cả 12 con khác, mặc dù đã có những giải thích từng con một. Tương quan của 12 con giáp với nhau sẽ được giải thích trong chương khác.
Vấn đề thứ hai có tính triết học. Mười hai con giáp có hai nhóm. Từ Dần đến Thân là thú rừng, và từ Dậu đến Sửu là thú nhà. Thế mà thần thoại này nói rằng một chu kỳ mới bắt đầu tại Tý và kết thúc tại Hợi. Vì sao chu kỳ bắt đầu tại Tí? Trung Quốc nói rằng Trời (Thiên) sinh tại Tí, Đất (Dịa) sinh tại Sửu, và Người (nhân) sinh tại Dần. Vì người sinh tại Dần, năm mới bắt đầu tại Dần. Trước khi có trời đất đã có 12 con giáp rồi? Vấn đề là ở chỗ đó. Vì lý do gì một chu kỳ mới lại bắt đầu tại giữa hai con thú nhà? Người xưa chia 12 con giáp ra hai loại thú rừng và thú nhà phải có lý do. Mọi chu kỳ biến đổi từ khởi đầu đến chung cuộc đều có hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn phát triển bao giờ cũng tàn bạo, mãnh liệt, bất chấp lý lẽ, chẳng quan tâm đến luân lý, đạo đức. Đó là quy luật mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé. Điều này có thể thấy trong giai đoạn đầu của mọi cuộc cách mạng trong lịch sử nhân loại. Vì thế giai đoạn phát triển được biểu tượng hóa bằng những con thú rừng, từ Dần đến Thân. Khi phát triển đã lên cực điểm, mọi chướng ngại đã được chinh phục, mọi chống đối đã được san bằng, những thế lực thù nghịch đã bị dẹp tan, tâm lý con người bắt đầu thay đổi, bắt đầu thư giãn hơn và mở đầu cho giai đoạn hai. Lúc này con người bắt đầu đặt ra những luật lệ để có thể sống thoải mái hơn, và để ngăn chặn không cho những tay giang hồ, anh hùng làm xáo trộn xã hội. Giai đoạn suy vi bắt đầu xảy ra và được biểu tượng hóa bởi những con thú nhà, từ Dậu đến Sửu. Những quy luật này sẽ được giải thích chi tiết hơn trong chương khác. Mười hai con giáp chính là một chu kỳ biện chứng gồm 12 giai đoạn, bắt đầu tại Dần, không phải tại Tý, và kết thúc tại Sửu. Vì sao bắt đầu từ Dần? Sửu tượng trưng sự chết, hay đoạn chót của một chu kỳ. Thế thì phải có một sức mạnh khủng khiếp, tượng trưng bằng Dần, để khởi động lại chu kỳ mới, hay một cuộc cách mạng.
Thứ tư. Thần thoại này không giải thích được tương quan giữa các con vật. Nói cách khác. Nó không thể giải thích được vì sao có 4 nhóm tam hợp: (1) Dần-Ngọ-Tuất, (2) Hợi-Mão-Mùi, (3) Tị-Dậu-Sửu, và (4) Thân-Tý-Thìn.
Cuối cùng, vì sao chỉ có 12 con mà không phải một con số nào khác?
12 CON GIÁP ĐÔNG PHƯƠNG


12 con giáp đông phương. Tuy đường Hoàng Đạo có 13 chòm sao , chiêm tinh tây phương chỉ dùng 12. Thế thì phải có một quy luật nào đó để xác định phải là 12, không phải bất kỳ con số nào khác. Số 12 có thể suy ra từ đồ hình Kinh Dịch (Hình 3). Trong đồ hình đó, thay Tứ tượng – Thái âm, Thiếu âm, Thiếu dương – bốn nguyên tố Lửa, Đất, Gió, Nước sẽ cho ta Hình 7. Vì có Tam tài gồm Trời, Đất, Trăng – là ba tác nhân gây ra mọi biến động trên trái đất, và 4 nguyên tố. Phối hợp một tác nhân với một nguyên tố sẽ cho ta 12 cặp đôi. Hình 8 là tranh Bữa Tiệc Ly của Da Vinci. Tranh có 13 người; Chúa ngồi giữa với 12 môn đệ hai bên. Thật ra, đó là 13 chòm sao Hoàng đạo. 12 môn đệ tượng trưng 12 cung Hoàng đạo, còn Chúa tượng trưng chòm sao Ophiuchus mà chiêm tinh không dùng. 12 đệ tử của Chúa chia làm 4 nhóm, mỗi nhóm 3 người tượng trưng Tam tài – Trời, Đất, Trăng. Và thay vì 4 nhóm, mỗi nhóm 3 người, ta có thể xếp lại thành 3 nhóm, mỗi nhóm 4 người. 4 người đó là 4 nguyên tố Lửa, Đất, Gió, Nước. Thế thì có hai cách để xếp 12 người này. Một là xếp theo Tam tài. Hai là theo 4 nguyên tố.

Cách thứ nhất là xếp theo Tam tài, và sẽ có 4 nhóm, mỗi nhóm 3 cặp đôi:
1 – Bảng 2, Hàng 1: Dần Ngọ, Tuất;
2 – Bảng 2, Hàng 2: Hợi Mão, Mùi;
3 – Bảng 2, Hàng 3: Thân, Tí, Thìn;
4 – Bảng 2, Hàng 4: Tị, Dậu Sửu.
Phương pháp này cho ta 4 bộ tam hợp theo hàng (Bảng 2).

Cách thứ hai là xếp theo 4 nguyên tố Lửa, Đất, Gió, Nước. Cách này sẽ cho 4 nhóm, mỗi nhóm 3 phần tử:
1 – Bảng 3, cột 2: Dần Ngọ, Tuất;
2 – Bảng 3, cột 3: Hợi Mão, Mùi;
3 – Bảng 3, cột 4: Thân, Tí, Thìn;
4 – Bảng 3, cột 5: Tị, Dậu Sửu.
Phương pháp này cũng cho ta 4 bộ tam hợp theo cột (Bảng 3).
Tóm lại, từ đồ hình Kinh Dịch, Hình 3, ta có thể thiết lập 64 quẻ dịch, và đồ hình Kinh Dịch, Hình 7 cũng cho ta 12 con giáp mà không dẫn đến những khái niệm đầy mâu thuẫn như ngũ hành.
NGŨ HÀNH

Ngũ hành. Phương pháp thiết lập 12 con giáp nói trên không mâu thuẫn như ngũ hành chia 12 con giáp ra làm 5 loại khác nhau (Bảng 4):
1 – Mộc gồm Dần và Mão;
2 – Hỏa gồm Tị và Ngọ;
3 – Kim gồm Thân và Dậu;
4 – Thủy gồm Hợi và Tí.
5 – Thổ gồm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Bốn cung Thổ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, trong tử vi gọi là Tứ mộ.
Ngũ hành có sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Ngũ hành cũng có khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
Ngũ hành sinh, khắc có nhiều mâu thuẫn nhưng không ai nói đến.
- Giữa Mộc và Hỏa là Thổ ở Thìn mà nói Mộc sinh Hỏa. Sao không nói Mộc sinh Thổ vì sau Mộc là Thổ?
- Giữa Kim và Thủy có Thổ ở Tuất mà nói Kim sinh Thủy. Sao không nói Kim sinh Thổ vì sau Kim là Thổ?
- Giữa Thủy và Mộc là Thổ ở Sửu mà nói Thủy sinh Mộc. Sao không nói Thủy sinh Thổ vì sau Thủy là Thổ?
- Sau Thổ ở Mùi thuộc là Thân và Dậu thuộc Kim nên nói Thổ sinh Kim, nhưng sau Thổ ở Sửu là Mộc mà không nói Thổ sinh Mộc, vân, vân;
- Kim ở Tây mà khắc Mộc ở Đông, và sau Mộc là Thổ mà nói Mộc khắc Thổ, vân, vân.

Một chi tiết tối quan trọng khác mà trí thức Đông phương không biết. Đó là 12 con giáp và Hậu Thiên Bát Quái tuy hai mà một. Hậu Thiên Bát Quái là một quá trình biện chứng từ khởi đầu đến chung cuộc, bắt đầu từ Chấn và kết thúc ở Cấn: Chấn-Tốn-Ly-Khôn-Đoài-Càn-Khảm-Cấn. Trong 8 giai đoạn này, Chấn phía đông, mùa Xuân; Ly phía Nam, mùa Hè; Đoài phía tây, mùa Thu; Khảm phía bắc, mùa đông. Bốn giai đoạn còn lại – Tốn, Khôn, Càn, Cấn – là những giai đoạn chuyển tiếp giữa hai mùa. Nếu chia những giai đoạn chuyển tiếp này làm hai phần, phần đầu thuộc giai đoạn trước, phần hai thuộc giai đoạn sau, sẽ cho ta 4 giai đoạn chính và 8 giai đoạn chuyển tiếp. Đó là 12 con giáp:
Chấn cung Mão, mùa Xuân. Tốn cung Thìn và Tị; Thìn sửa soạn hết Xuân; Tị sửa soạn vào Hạ. Ly cung Ngọ, mùa Hạ. Khôn cung Mùi và Thân; Mùi sắp hết Hạ, Thân sửa soạn vào Thu. Đoài cung Dậu, mùa Thu. Càn cung Tuất và Hợi; Tuất sắp hết Thu; Hợi sửa soạn vào Đông. Khảm cung Tí, mùa Đông. Cấn cung Sửu và Dần; Sửu sắp hết Đông; Dần sửa soạn vào Xuân. Phương pháp này cho ta bốn bộ ba:
- Xuân gồm Dần thuộc Trời; Mão thuộc Đất; Thìn thuộc Trăng;
- Hạ gồm Thìn thuộc Trời; Ngọ thuộc Đất; Mùi thuộc Trăng;
- Thu gồm Thân thuộc Trời; Dậu thuộc Đất; Tuất thuộc Trăng;
- Đông gồm Hợi thuộc Trời; Tí thuộc Đất; Sửu thuộc Trăng;
Trong 4 bộ ba này, Trời là sức mạnh chuyển tiếp từ mùa này sang mùa kia; Đất là sức mạnh kéo dài một mùa; Trăng là sức mạnh chấm dứt một mùa. Ba sức mạnh này giải thích vì sao có tuần hoàn trong thiên nhiên. Bảng 4 thay bằng Bảng 5 vì 12 con giáp, vốn là một sản phẩm của văn minh Ai Cập, đã bị Trung Quốc xuyên tạc và biến nó thành nền tảng nhảm nhí của Tử Vi Đẩu Số.

Trong Bảng 4, Trung Quốc không hề giải thích vì sao Mộc có hai cung Dần và Mão. Dần và Mão phải có gì khác mới chia làm hai. Vì sao Tị và Ngọ đều thuộc Hỏa? Vì sao Thân, Dậu thuộc Kim? Vì sao Hợi, Tí thuộc Thủy? Lý do Ngũ hành có nhiều mâu thuẫn vì nó có gốc từ văn minh Sumer.
NGUỒN GỐC SUMER CỦA NGŨ HÀNH

Nguồn gốc Sumer của Ngũ hành. Văn minh Sumer (khoảng 4000 đến 2500 trước Tây lich) lấy số 60 làm gốc. Phương pháp đếm từ 1 đến 60 diễn ra như sau (Hình 9):
- Lấy ngón cái phải, bắt đầu từ đốt thứ 3 ngón trỏ là 1, đến đốt thứ 3 ngón út là 12
- Giơ ngon út trái lên là 12;
- Tiếp tục như đoạn 1;
- Khi tay phải đến 12, giơ ngón áp út trái lên là 24;
- Tiếp tục như đoạn 1;
- Khi tay phải đến 12, giơ ngón giữa lên là 36;
- Rồi ngón trỏ trái là 48
- Ngón cái trái là 60


Phương pháp đếm nay có thể dùng làm tính cộng, tính trừ và tính nhân, nhưng không làm được tính chia vì Sumer không có số zero. Đó là bí mật của bàn tính Abacus của Trung Quốc (Hình 10). Dạng nguyên thủy của nó là sỏi trên cát (Hình 11).
LỤC TUẦN HOA GIÁP
Lục tuần hoa giáp. Hệ thống 60 có thể áp dụng vào cái gọi là “lục tuần hoa giáp” của Trung Quốc. Năm ngón phải tương đương Ngũ hành, còn 12 đốt tay phải là 12 con giáp, tức là 60 bằng 5 nhân 12. Tuy nhiên, Trung Quốc muốn giấu nguồn gốc Sumer của ngũ hành và “lục tuần hoa giáp” bằng cách gọi ngũ hành là năm hành tinh, vì chữ “hành” nghĩa là “di chuyển,” và “hành tinh” viết tắt là “hành.” Ngũ hành gồm các sao Kim, Thủy, Hỏa, Mộc và Hỏa. Năm sao xoay trên 12 con giáp là 60. Nhưng vì muốn khoác lên lục tuần hoa giáp một nét huyền bí, Trung Quốc đặt ra Thập thiên căn, tức là 10 rễ trời, gồm có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Mười rễ trời này trổ ra 12 cành, gọi là Thập nhị địa chi, gồm có Dần Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mười hai cành, hay 12 chi, thường được gọi là 12 con giáp.
Mười rễ trời, hay thiên căn trổ ra 12 cành, hay địa chi, tức là vũ trụ có trung tâm. Điều này phản khoa học, vì vũ trụ không có trung tâm nào cả. Nói cách khác, mọi điểm trong vũ trụ đều là trung tâm, vì tại mỗi điểm, bán kính từ điểm đó ra mọi hướng đều là vô hạn.
Tuy nhiên, mục đích của Thập thiên căn và Thập nhị địa chi là để có lục tuần hoa giáp và cứ hai căn một hành (Bảng 6):

Bảng 7 liệt kê Lục tuần hoa giáp theo Ngũ hành gồm có Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.

Trong bảng Lục tuần hoa giáp có khá nhiều vấn đề chưa hề được đặt ra. Trước hết, hành của Lục thập hoa giáp không biết từ đâu mà có. Thí dụ, Tí thuộc Thủy, nhưng Giáp Tí thuộc Kim – Kim sinh Thủy; và Thân thuộc Kim, nhưng Giáp Thân thuộc Thủy – Thủy không sinh Kim. Thế thì hành của địa chi có thể bị thiên can thay đổi? Và những năm Can sinh Chi tốt hay xấu? Đã có ai làm thống kê về những năm của Lục thập hoa giáp. Hai là trong lịch sử nhiều ngàn năm mà dùng chu kỳ 60 năm thì phân biệt cách nào?
KẾT LUẬN
Trong những khái niệm của văn minh Trung Quốc, ngũ hành quan trọng nhất vì nó là nền tảng của tất cả các khoa học khác. Trong nhạc là ngũ âm đã bị đào thải vì đặt nền tảng trên ngũ hành phản khoa học.
Đông y cũng căn cứ vào ngũ hành, và chỉ là một loại giả dược, và do đó không chữa được những bệnh thật như ung thư, đột quị, Covid-19… Liên quan đến bệnh tật, một sự thật ít người biết. Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng, quân giải phóng sống trong rừng sâu thường bị sốt rét. Bác Hồ yêu cầu Bác Mao vận động y sĩ Trung Quốc tìm thuốc trị sốt rét. May mắn thay! Một bác sĩ Tây y có nhiều kiến thức về Đông y là bác sĩ Đồ U U. Bà lấy khoảng 200 toa thuốc Bắc rồi dùng phương pháp khoa học phân chất và tìm được một chất duy nhất trị được sốt rét. Năm 2015, bà được trao giải Nobel Y khoa. Trong 200 toa chỉ có một chất trị được sốt rét. Đó là bằng chứng bệnh nhân thuốc Bắc tin thuốc nên hết bệnh. Nhưng những bệnh cần giải phẫu, hoặc cần kháng sinh, Đông y bó tay.
Ngoài ra, hậu quả tiêu cực của âm dương, ngũ hành là chúng tạo điều kiện lý tưởng cho bói toán, mê tín, dị đoan. Bạn tôi là cò đất ở nghĩa trang Rose Hills, California. Anh nói nhiều miếng giá cả chục triệu USD vì người Hoa rất tin phong thủy, địa lý. Khi người mua tìm được đất vừa ý, hỏi ý các thầy địa lý thì mỗi thầy một ý, không ai giống ai. Đó là bằng chứng phong thủy không phải khoa học.
Lúc còn trẻ tôi cũng rất mê tín, và đã bỏ nhiều thời gian học tử vi đẩu số, bói dịch, mai hoa dịch số, độn giáp, thái ất, vân, vân… Nhưng vì tôi không thể thuộc lòng nên không thành công. Đơn giản là vì nếu không hiểu, tôi không thể nhớ được. Và đó là cái học từ chương ở Đông phương. Nếu không qua được Mỹ, có lẽ tôi chỉ có thể chạy xe ôm, hay làm bảo vệ mà sống. Trong những nhảm nhí dựa vào âm dương, ngũ hành, tôi học được Lục nhâm đại độn, và tôi thường dùng để khoe các bạn. Thống kê thì đúng ít, sai nhiều. Nhưng khoảng sáu tháng tôi hoảng hồn vì bị ám ảnh nặng. Lúc nào tôi cũng tự hỏi hôm nay ngày, tháng âm lịch gì, hay giờ Dần hay Mão? Khoảng vài tháng sau tôi bỏ cuộc để tránh bị tâm thần.
Nhảm nhí nhất là Tử vi đẩu số. Chỉ cần năm, tháng, ngày, giờ sinh, gọi là tứ trụ mệnh thân, là có một lá số tử vi. Điều này nghĩa là những sao tử vì không phải sao trên trên vì dù ở Mỹ, Âu châu, hay Việt Nam cũng chỉ là một số tử vi. Có lẽ Trần Đoàn, tổ sư tử vi, không biết trái đất tròn nên nghĩ sao đâu cũng vậy.Thế mà không ai hỏi những sao này từ đâu mà có. Rắc rối nhất là mỗi sao đều có một hành, và khi coi một cung, phải coi ba cung tam hợp, nhị hợp, xung chiếu, nghĩa là coi một cung phải xét khoảng 20 sao, 20 hành sinh, khắc. Cho nên phần đông các “thầy” phải nhớ những câu phú để đoán. Nhưng không ai giải thích dựa vào đâu mà biết các câu phú đó đúng hay sai. Tôi quen một gia đình được bạn bảo lãnh qua Mỹ. Lúc ở Việt Nam họ nghèo lắm. Thế mà qua Mỹ khoảng 15 năm, tất cả điều thành tài. Trừ bà mẹ phải đi làm giúp chồng và các con, tất cả đều là bác sĩ, tiến sĩ. Ở Mỹ học rất dễ nên chỉ cần siêng một chút và thông minh trung bình là được. Ngược lại, các em họ tôi qua Âu châu ít người thành công. Cũng một lá số mà môi trường quyết định thành công hay không. Điều này không có trong tử vi.
Tệ hơn nữa, tử vi thường bị các bọn ma đầu lợi dụng. Miền Nam trước 1975 có người tung tin ông ấy sinh 4 Tí – năm Tí, tháng Tí, ngày Tí, và giờ Tí. Nhờ đó mà ông ta thành đại nghiệp. Nhưng khoảng 25 năm sau, cáo phó báo tin ông ấy sinh năm Hợi, không phải Tí. Một chuyện tương tự đã xảy ra trước đó. Trong cuốn Tử Vi Đẩu Số của Vân Đằng Thái Thứ Lang có một lá số Tử Vi của “người gian hùng.” Lá số này được giới tinh hoa Việt Nam chuyền tay nhau, nhờ đó mà ông ấy danh mãn thiên hạ.

Nói về giá trị của tử vi. Theo kinh nghiệm nhiều năm về Tử Vi của tôi, nó là một khoa học tầm phào. Lúc con tôi sinh ra, tôi lấy tử vi cho nó mà giật mình. Nó sinh năm dương, mệnh ở Thân, nghĩa là dương cự dương vị, cục sinh mệnh; thân cư quan lộc; tử, phủ đồng cung tại mệnh; tuần, triệt không án ngữ; có long, hổ, cái, phượng, xương, khúc, vân, vân. Tôi có một người bạn kinh nghiệm coi tử vi đã nhiều năm. Anh nói được chân truyền tử vi, và cha anh biết được ngày và giờ chết của mình. Anh coi tử vi của con tôi rồi nói, anh coi tử vi đã nhiều năm, cho cả trăm người, mà chưa hề gặp một tử vi nào tốt như vậy. Anh còn nói tử vi này tốt hơn tử vi của các tổng thống Mỹ, như Clinton, Bush, Obama, Trump, vân, vân. Vậy mà con tôi có gì đặc biệt đâu! Nó cũng lấy được tiến sĩ ở Mỹ, nhưng nói tốt hơn Clinton, Obama thì quá xấu hổ.
Tóm lại, bài “Kinh Dịch: Thánh kinh Ai Cập”đã chứng minh nguồn gốc Ai Cập của văn minh Trung Quốc. Bài viết này chứng minh âm dương, ngũ hành, can chi cũng có gốc từ Trung đông. Điều này giải thích vì sao văn minh Trung Quốc rất nghèo nàn, đến nỗi phải vay mượn khắp nơi: mượn Phật giáo từ Ấn độ, nhập cảng chủ thuyết Cộng sản từ Tây phương. Có lẽ vì quá tin âm dương, ngũ hành, chúng đã giết hết sáng tạo của họ, mặc dù rất thông minh.

