BIỆN CHỨNG PHÁP HEGEL: PHI LOGIC, PHẢN KHOA HỌC
LỜI NÓI ĐẦU
Hegel là một trong triết gia lớn nhất của nhân loại, và nếu không có Hegel, sẽ không có Marx. Nhiều thế kỷ đã đi qua, bóng mà của ông vẫn còn ám ảnh thế giới. Nhiều người không nghe tên ông, nhưng phương pháp biện chứng – đề, phản đề, và hợp đề – của ông hầu như ai cũng biết. Gần đây tên ông lại gây tranh cãi với tác phẩm “The End of History and The Last Man” (Chung cuộc Lịch sử và Người Cuối cùng) của Francis Fukuyama, nói rằng sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, ngoài thể chế dân chủ, tự do của Tây phương, nhân loại sẽ không còn ý tưởng nào khác. Đó là chấm dứt lịch sử. Gần đây nhất, luận văn tiến sĩ của TS Nguyễn Hữu Liêm, tựa đề “Lịch Sử Đã Đến Hồi Chung Cuộc,” cũng dựa vào Hegel để tiên đoán lịch sử nhân loại sắp chấm dứt khi văn minh Tây phương chinh phục thế giới, và ánh sáng Kitô giáo lan tràn khắp nơi. Thế thì một người không biết gì về Triết mà dám phản biện Hegel là chuyện nhảm nhí, vớ vẩn, hỗn láo. Tuy nhiên, số người chỉ trích Hegel không phải it.
- Đầu tiên là triết gia Arthur Schopenhauer, người sống cùng thời Hegel, cho rằng tác phẩm của Hegel cực kỳ cô đọng, trừu tượng, và thường có vẻ cố tình làm mơ hồ.
- Kierkegaard bác bỏ quan niệm tất yếu lịch sử của Hegel, lập luận rằng lịch sử được ngẫu nhiên định hình, chứ không phải bởi tính tất yếu về mặt khái niệm, và ông cho rằng hệ thống của Hegel quá trừu tượng để có thể lý giải được trải nghiệm sống của đức tin và việc ra quyết định đạo đức. Hơn nữa, bản chất hồi tưởng trong phương pháp của Hegel chỉ diễn giải các sự kiện sau khi chúng đã xảy ra, điều này làm suy yếu sức mạnh dự đoán hoặc chuẩn mực của nó.
- Theodor Adorno nói rằng tác phẩm “Hiện Tượng Học Tinh Thần” của Hegel “thực sự không thể hiểu nổi”, và ông cho rằng quan điểm thần chính luận (theodicy) của Hegel – biện minh cho đau khổ là cần thiết cho tiến bộ lịch sử, và những sự kiện như thảm sát Holocaust đã phá vỡ quan niệm rằng lịch sử là hợp lý. Ông cũng lập luận rằng phép biện chứng của Hegel – nơi các mâu thuẫn bị dung hòa – có thể che giấu hoặc biện minh cho bạo lực, và nó có nguy cơ trở thành một hệ thống độc tài, xóa bỏ mọi khác biệt và phi bản sắc, mở đường cho ý thức hệ toàn trị.
- Karl Popper, trong cuốn “The Open Society and Its Enemies” (Xã hội Mở và Kẻ thù của Nó) nói rằng Plato, Hegel và Marx là ba kẻ thù của xã hội mở.
- Bertrand Russell tóm tắt triết học Hegel với câu “tầm phào” (hot air và rằng phương pháp biện chứng của Hegel – nơi các mâu thuẫn được giải quyết bằng những tổng hợp cao hơn – không chỉ thiếu sót mà còn quyến rũ một cách sai lầm. Ông bác bỏ ý tưởng của Hegel rằng logic có thể suy ra thực tại. Ông coi siêu hình học của Hegel là mơ hồ và quá trừu tượng, thiếu cơ sở thực nghiệm. Ông tin rằng hệ thống của Hegel khuyến khích chủ nghĩa thần bí trí tuệ, thay vì phân tích chặt chẽ. Bertrand Russell chỉ trích triết học của Hegel là “không khí nóng”, bác bỏ phương pháp biện chứng
- Lại có người cho rằng khái niệm Tinh thần (Geist) của Hegel quá mơ hồ, đến mức thiếu ý nghĩa cụ thể, khiến việc tiếp cận hoặc bác bỏ nó trở nên khó khăn.
Thế thì người không biết nhiều về Triết như tôi mà hiểu sai Hegel cũng có thể tha thứ được. Tuy nhiên, lúc còn đi học, tôi học được khoa “Tư Duy Phản biện” (Critical Thinking) nên thường có thể nhận ra những sơ hở trong các lập luận. Sau đó tôi lên mạng tìm bằng chứng hỗ trợ cho lập luận của mình. Ngày nay với công nghệ AI, nhiều tên tuổi lớn trong triết học, tôn giáo có thể sẽ trở thành cước chú của lịch sử. Đó là một ân sủng bất ngờ vì nó giúp ta tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc ý hệ, mọi loại giáo điều, triết học cũng như tôn giáo.
DẪN NHẬP
Theo Triết lý Lịch sử của Hegel, lịch sử sẽ chấm dứt khi văn minh Tây phương chinh phục thế giới. Một chi tiết tối quan trọng mà các tổ sư logic/lý tính không biết, trong đó có Socrates, Plato, Aristotles, Kant, Hegel, Schopenhauer, Frege, Popper, Russell, Witgenstein…. Đó là lý tính cổ võ bạo lực, gây nên bất công xã hội, kỳ thị và thanh lọc sắc tộc (xem Phần II). Bằng chứng là bắt đầu từ Kỷ nguyên Khai sáng đến nay, chiến tranh xảy ra triền miên. Bắt đầu là thực dân chủ nghĩa, và theo sau là hai thế chiến vì các thế lực Tây phương tranh dành thuộc địa mà giết nhau. Thế thì khi văn minh Tây phương chinh phục thế giới, bạo lực sẽ lan tràn khắp nơi. Bạo lực sinh ra bạo lực. Trong nước Cộng hoà của Plato và thế giới chung cuộc của Hegel sẽ chẳng có ngày an bình. Thí dụ khác. Socrates là tổ sư lý tính, nhưng hai học trò của ông làm loạn, âm mưu lật đổ chính quyền, với kết quả là Socrates bị kết án tử hình bằng độc dược. Thế giới của Hegel và của tây phương chứa mầm mống tự huỷ diệt của nó. Mầm mống huỷ diệt đó là lý tính.
Thế thì có hai trường hợp khả hữu. Một, chắc chắn là Triết lý Lịch sử của Hegel là tà thuyết. Hai, tất cả đều tình cờ! Lịch sử không tuân theo bất kỳ quá trình biện chứng nào cả. Trong thế kỷ 17, nhờ những điều kiện thuận lợi do Thiên thời, Địa lợi và Nhân sinh và qua các cuộc thập tự chinh kéo dài từ 1096 đến 1291, Tây phương tiếp thu được toán học từ Đông phương làm nền tảng cho khoa học hiện đại, dẫn đến Kỷ nguyên Khai sáng và cách mạng kỹ nghệ. Nhờ đó mà Tây phương chinh phục được thế giới với những hậu quả ngoài sức tưởng tượng của Hegel, như thực dân chủ nghĩa, hai thế chiến I & II và những tranh chấp chính trị và quân sự liên tục từ sau thế chiến II đến nay. Ngược lại, Duy Sử Biện chứng, bao gồm ba tác nhân Thiên thời, Địa lợi và Nhân sinh, có thể giải thích được mọi biến cố lịch sử. Nó không có bất kỳ khái niệm khó hiểu nào không kiểm chứng được, mà căn cứ vào lịch sử mà nhận ra những yếu tố làm nên khúc quanh lịch sử mà đoán nó sẽ đi về đâu. Nó đã giải thích được vì sao mãi đến thế kỷ thứ 17 khoa học mới xuất hiện dẫn đến cái gọi là văn minh Tây phương. Nó có thể giải thích được hưng thịnh và tồn vong của một dân tộc, thậm chí cả một nền văn minh. Điều này Triết lý Lịch sử của Hegel không giải thích được, vì theo Michael Sugrue, Triết lý Lịch sử của Hegel là hàng nhái của Thần học Cơ đốc giáo. Hơn nữa, cũng theo Sugrue, với một lịch sử quá ngắn của nước Phổ (Prussia), thành lập năm 1701, vỏn vẹn có mấy chục năm khi Hegel xuất hiện năm 1770, bàn về lịch sử toàn thế giới là một tham vọng quá lớn, nếu không nói là viển vông.
Michael Sugrue (1957-2024) là nhà sử học người Mỹ và là giáo sư đại học nổi tiếng với những video rất hấp dẫn, dễ hiểu về triết học và lịch sử trí thức phương Tây. Ông đã dạy tại các đại học danh tiếng như Columbia và Princeton trước khi gia nhập Đại học Ave Maria. Khi còn là ứng viên tiến sĩ, ông đọc Hegel và không hiểu gì cả. Ông tìm cố vấn của mình và hỏi về vấn đề này. Cố vấn khuyên ông đọc các tác phẩm thần học trước đó của Hegel. Xuất thân là một nhà thần học tầm thường, chẳng ai nghe tiếng, sách chẳng ai đọc, Hegel bèn đổi qua triết học vì triết học có đông độc giả hơn thần học; hơn nữa; lúc Hegel chào đời là lúc ảnh hưởng của Kỷ nguyên Khai sáng đang bao trùm khắp Tây Âu. Sau đó, sau khi đoc các tác phẩm thần học của Hegel, Sugrue phát hiện ra rằng Triết học Lịch sử của Hegel chỉ là một loại triết học của thần học Cơ đốc giáo, được khoác lên lớp áo của lý thuyết chính trị, xã hội thời Khai sáng. Và vì lý do đó, theo Sugrue, Hegel có lẽ là người cuối cùng và có lẽ là vĩ đại nhất trong số những người tổng hợp hai truyền thống Athens (Hy Lạp) và Jerusalem (Do thái). Thế thì Hegel không phải một nhà tư tưởng nguyên thủy, mà mượn những khái niệm của thần học Cơ đốc giáo rồi khoác cho nó một cái vỏ triết lý. Thí dụ:
- Cơ đốc giáo: tận thế; Hegel: chung cuộc lịch sử;
- Cơ đốc giáo: linh hồn; Hegel: tinh thần chủ quan (subjective spirit);
- Cơ đốc giáo: Thiên Chúa; Hegel: tinh thần tuyệt đối (absolute spirit);
- Cơ đốc giáo: qua ân sủng mà linh hồn hội nhập với Thiên Chúa; Hegel: qua một quá trình biện chứng mà tinh thần chủ quan trở thành tinh thần tuyệt đối.
- Cơ đốc giáo: Thiên chúa có một kế hoạch quan phòng cho con người, và qua mặc khải mà ta biết ý của Thiên Chúa; Hegel nói qua biện chứng mà ta biết được mục đích và chung cuộc của lịch sử và gọi đó là biện minh cho Thiên Chúa (theodicy).
- Chưa hết, Cơ đốc giáo: Một Chúa Ba Ngôi; Hegel: Luận đề (thesis), Phản đề (antithesis), Hợp đề synthesis).
Với biện chứng pháp gồm ba giai đoạn – đề, phản đề và hợp đề, Hegel hy vọng có thể vạch ra quỹ đạo của lịch sử nhân loại và tìm ra hướng đi của cuộc sống con người. Ông thành thật tin tưởng có thể nhận ra mục đích cuối cùng của sự tồn tại của con người, và tin rằng ông có thể tìm ra một cách hợp lý mục đích của nhân loại là gì, mục đích của sự tồn tại của con người là gì. Tuy nhiên, triết học lịch sử của ông chỉ là một loại ngụy khoa học vì đã có nhiều tiên đoán về chung cuộc lịch sử dựa vào triết học lịch sử của ông, trong đó có Marx, Kojève, Fukuyama, TS Nguyễn Hữu Liêm… Cùng một triết lý mà có nhiều tiên đoán khác nhau. Đó là ngụy khoa học.
Một thí dụ về ngụy khoa học của triết học Hegel. Cách mạng công nghệ xảy ra tại Anh khoảng từ 1750 đến 1840, và từ 1750 đến 1945 Anh là cường quốc số một trên thế giới, và từ sau 1945 ngôi vị đó nhường cho Mỹ. Đến khoảng 2020, nhiều dấu hiệu Anh và nhiều nước Tây Âu khác đang gia nhập thế giới thứ ba, bởi vì những điều kiện thuận lợi như Thiên thời, Địa lợi và Nhân sinh đã giúp Tây Âu từ hơn 4 thế kỷ qua không còn đúng nữa. Hiện nay, nhiều nước Tây Âu, chẳng hạn Tây Ban Nha, Ý… đang phải ngửa tay xin Trung Quốc đến đầu tư. Sự kiện này không thể xảy ra theo biện chứng pháp Hegel, vì nó là những vòng xoáy ốc, vòng này cao hơn vòng trước. Vấn đề là lấy ngụy khoa học đó mà quả quyết tất yếu lịch sử là điều vô cùng nguy hiểm. Nhiều trăm triệu người đã bị tế thần trên bàn thờ của Hegel.
Vậy, trước khi phê bình triết lý lịch sử của Hegel, hãy khái quát một số điểm liên quan đến biện chứng pháp và lý tính, vì biện chứng pháp là xương sống của triết học Hegel, còn lý tính là huyết mạch của văn minh tây phương.
MỘT SỐ ĐIỂM CHÍNH CỦA TRIẾT LÝ LỊCH SỬ CỦA HEGEL
Triết học lịch sử của Hegel bắt nguồn từ ý tưởng rằng lịch sử tuân theo một quá trình hợp lý được thúc đẩy bởi Lý trí và phát triển của Tinh thần (Geist). Ông phân biệt ba loại phương pháp lịch sử: Lịch sử Nguyên thủy, Lịch sử Phản ánh và Lịch sử Triết học.
TINH THẦN
Hegel lập luận rằng lịch sử phụ thuộc lý tính, nghĩa là các sự kiện lịch sử không phải ngẫu nhiên, mà là một phần của quá trình hợp lý, hướng tới tự do và tự thức lớn hơn; và lịch sử là hiện thực hóa Tinh thần, thể hiện qua đam mê và sở thích của con người, cùng với phát triển của Nhà nước. Nhà nước không chỉ là một chính phủ mà là bản sắc văn hóa và chính trị của một dân tộc. Các bài giảng của ông nhấn mạnh rằng lịch sử không chỉ là một tập hợp các sự kiện, mà là một quá trình biện chứng, và qua nhiều mâu thuẫn mà có tiến bộ và các hình thức hiểu biết cao hơn. Quan điểm này có ảnh hưởng lớn trong triết học, chính trị và xã hội học. Trong triết học Hegel, Tinh thần là một khái niệm nền tảng, đại diện cho phát triển của ý thức, lý trí và tự do trong suốt lịch sử. Nó không chỉ là một tâm trí cá nhân, mà là một sức mạnh thúc đẩy phát triển của con người. Hegel chia Tinh thần thành ba hình thái chính:
- Tinh Thần Chủ Quan (Subjective Spirit) – Tâm trí cá nhân, bao gồm nhận thức về bản thân và tâm lý học.
- Tinh Thần Khách Quan (Objective Spirit) – Các cấu trúc của xã hội, chẳng hạn như luật pháp, đạo đức và các thể chế chính trị.
- Tinh Thần Tuyệt Đối (Absolute Spirit) – Hình thái cao nhất, được thể hiện thông qua nghệ thuật, tôn giáo và triết học, nơi Tinh thần hoàn toàn nhận thức được chính mình.
Tinh thần tiến triển qua một quá trình biện chứng, nghĩa là nó tiến hóa bằng cách hóa giải mọi mâu thuẫn, dẫn đến tự thức và tự do sâu sắc hơn; cuối cùng đạt đến đỉnh cao là Tri thức Tuyệt đối, nơi Tinh thần hiểu rõ trọn vẹn chính mình.
BIỆN CHỨNG PHÁP HEGEL
Phép biện chứng của Hegel dựa trên giải thiết rằng vạn vật đều có mâu thuẫn cố hữu đối với các phần tử đối lập của chúng. Theo đó, bất kỳ ý tưởng hay khái niệm nào cũng có thể được hiểu thông qua tổng hợp của hai lực đối lập. Tổng hợp này tạo ra nhận thức mới và cao hơn, sau đó dẫn đến tiến bộ và phát triển hơn nữa. Biện chứng pháp của Hegel thường được mô tả theo ba giai đoạn:
- Đề – Một khái niệm hoặc trạng thái ban đầu.
- Phản đề – Phản ứng mâu thuẫn hoặc phủ định đề.
- Hợp đề – Hòa giải xung đột giữa đề và phản đề, tạo ra hiểu biết ở cấp độ cao hơn.
Tổng hợp này sau đó trở thành một luận đề mới, và chu kỳ tiếp tục mãi mãi. Nó không phải là một vòng luẩn quẩn —mà là một vòng xoắn ốc, mỗi vòng cao hơn vòng trước, phức tạp hơn và tự nhận thức lớn hơn. Biện chứng của Hegel không chỉ là một phương pháp logic—mà là một động cơ siêu hình. Ông tin rằng bản thân thực tại diễn ra một cách biện chứng. Ví dụ, trong cuốn Hiện Tượng Học Tinh Thần (Phenomenology of Spirit), ông theo dõi cách ý thức con người phát triển từ nhận thức giác quan cơ bản, đến tự thức và cuối cùng là kiến thức tuyệt đối—mỗi giai đoạn xuất hiện từ những mâu thuẫn của giai đoạn trước. Phương pháp này cho phép Hegel giải thích thay đổi, tiến bộ, thậm chí là chính lịch sử như một quá trình hợp lý. Nó không hỗn loạn—mà là mâu thuẫn tự giải quyết. Và đó là lý do tại sao ý tưởng này có ảnh hưởng lớn đến các nhà tư tưởng sau này.
BIỆN CHỨNG PHÁP VÀ THỰC TẠI
Biện chứng pháp Hegel không chỉ là một công thức ba đoạn, mà là một động cơ năng động để hiểu cách thực tế và tư duy tiến hóa.
- Không Chỉ Là Đề-Phản đề- Hợp đề. Hegel đã mô tả quá trình mà các khái niệm phát triển thông qua những mâu thuẫn nội tại. Mỗi giai đoạn chứa mầm mống phủ định riêng của nó, dẫn đến một giai đoạn cao hơn, toàn diện hơn.
- Vận Động của Tư Duy. Biện chứng pháp Hegel là một logic tự động. Nó không bị áp đặt từ bên ngoài, mà là cách thực tế và tư duy tự nhiên tiến triển. Ví dụ: (1) Khái niệm về “Hữu” quá trừu tượng, tự sụp đổ thành đối lập của nó là “Vô”; (2) Căng thẳng của chúng tạo ra một khái niệm phong phú hơn “Trở thành” (Becoming), thống nhất cả hai.
- Thực Tại là Hợp Lý (Reality is Rational). Đối với Hegel, logic không đơn thuần là các lập luận—mà là bản thân của thực tại. Trong cuốn Khoa học về Logic (Science of Logic), ông lập luận rằng biện chứng pháp là cấu trúc của cái tồn tại. Vì vậy, khi suy nghĩ biện chứng, ta không chỉ suy nghĩ về thế giới— mà suy nghĩ với thế giới.
- Phổ Quát Cụ Thể. Biện chứng pháp Hegel, không phải khái quát trừu tượng, mà dẫn đến phổ quát cụ thể—các khái niệm chứa đầy mâu thuẫn nội tại. Ví dụ, “tự do” không chỉ bị ràng buộc; nó chỉ có ý nghĩa thông qua đời sống xã hội và đạo đức, bao gồm các nghĩa vụ, luật lệ và công nhận lẫn nhau.
PHẢN BIỆN TRIẾT HỌC LỊCH SỬ HEGEL
Thời đại của lý trí—còn được gọi là Khai sáng—diễn ra khoảng thế kỷ 17 và 18, với ảnh hưởng kéo dài đến đầu thế kỷ 19. Đó là thời kỳ các nhà tư tưởng khắp châu Âu cổ võ lý tính, khoa học và cá nhân chủ nghĩa, phủ nhận truyền thống và thẩm quyền tôn giáo. Phong trào này bắt đầu suy yếu vào khoảng thời gian diễn ra Cách mạng Pháp năm 1789, mặc dù di sản của nó vẫn tiếp tục định hình tư tưởng khoa học và dân chủ hiện đại. Một trong những khái niệm chính của Khai sáng là Chủ nghĩa duy lý, tin rằng lý tính là nguồn gốc của kiến thức và sự thật. Các nhà tư tưởng Khai sáng lập luận rằng logic và tư duy phản biện có thể giải quyết các vấn đề xã hội và khám phá các quy luật tự nhiên. Nhưng những người chỉ trích cho rằng các nhà tư tưởng Khai sáng đặt quá tin vào lý tính, thường coi nhẹ cảm xúc, trực giác và truyền thống là thấp kém. Điều này dẫn đến một thế giới quan mà một số người cho là quá máy móc và giản lược. Và trong khi các nhà tư tưởng Khai sáng thách thức giáo điều tôn giáo, họ đã thay thế nó bằng một loại giáo điều mới: niềm tin mù quáng vào khoa học và tiến bộ. Thiên Chúa của tôn giáo đối với họ là lý tính. Tuy nhiên, khi hỏi đâu là nguồn gốc, chức năng và giới hạn của lý tính, họ không thể trả lời. Dĩ nhiên, khoa học cũng tôn thờ lý tính, và cũng cuồng tín không kém. Trong cuốn The Grand Design (Thiết kế Lớn), Steven Hawking nói, vì có trọng lực, vũ trụ không cần một đấng tạo hóa châm ngòi để dựng lên vũ trụ. Thiên Chúa của triết học là lý tính, còn Thiên Chúa của khoa học là trọng lực. Cả hai đều cuồng tín và giáo điều như nhau.
Vì sinh ra vào cuối thời Khai sáng, Hegel cũng bị nhiễm căn bệnh cuồng tín và giáo điều đó. Thế giới quan của Hegel là một thế giới máy móc và giáo điều. Ông tin có thể nhận ra mục đích cuối cùng của sự tồn tại của con người, và tin rằng ông có thể tìm ra một cách hợp lý mục đích của nhân loại là gì, mục đích của sự tồn tại của con người là gì.
Ngày nay quan điểm chỉ lý tính và tư duy phản biện mới có thể giải quyết các vấn đề xã hội và khám phá ra các quy luật tự nhiên đã bị Lý thuyết Lượng tử và thần kinh học bác bỏ.
PHÊ BÌNH BIỆN CHỨNG PHÁP CỦA HEGEL
Biện chứng pháp Hegel—phương pháp hiểu thực tại thông qua diễn biến năng động của các mâu thuẫn—vừa có ảnh hưởng vừa gây tranh cãi. Trong khi nó định hình triết học hiện đại, lý thuyết chính trị và thậm chí là chủ nghĩa Marx, cũng thu hút nhiều chỉ trích gay gắt từ nhiều góc độ khác nhau. Vì thí dụ về những chỉ trích đáng chú ý nhất:
- Mơ hồ và Trừu tượng. Nhiều nhà phê bình cho rằng biện chứng pháp Hegel nổi tiếng khó hiểu vì ngôn ngữ trừu tượng, cô đọng và cấu trúc logic phức tạp của ông đầy vẻ thần bí hơn là giải thích rõ ràng.
- Giả Định Mục Đích Luận. Biện chứng pháp Hegel ngụ ý rằng lịch sử diễn ra theo hướng có mục đích hợp lý. Điều này giả định một loại tính tất yếu lịch sử không quan tâm đến tính ngẫu nhiên, hoặc tính phi lý trong các vấn đề của con người.
- Logic Tổng Hợp. Một số triết gia chỉ trích hệ thống của Hegel đơn giản hóa vấn đề, bằng cách gộp tất cả các mâu thuẫn vào một tổng thể thống nhất, và xóa bỏ mọi khác biệt và các khía cạnh không thể giản lược của trải nghiệm con người.
- Xét lại của Chủ Nghĩa Marx. Trong khi sửa biện chứng pháp Hegel thành duy vật biện chứng, Marx tin rằng các điều kiện vật chất, không phải ý tưởng trừu tượng, thúc đẩy thay đổi lịch sử. Thậm chí một số người theo Marx tiếp tục tranh luận liệu phương pháp của Hegel có thể được cứu vãn hay cần phải loại bỏ hoàn toàn.
- Phê bình Đạo giáo và phi phương Tây. Một số học giả cho rằng cho rằng biện chứng pháp Hegel phản ánh siêu hình học phương Tây mà thiếu tính phổ quát, hài hoà và bổ sung hơn là mâu thuẫn và tổng hợp của nhiều triết lý Đông phương, chẳng hạn Đạo giáo.
- Quan Tâm về Đạo Đức và Chính Trị. Quan niệm của Hegel về nhà nước như là hiện thực hóa cuộc sống đạo đức đã bị chỉ trích vì biện minh cho chủ nghĩa độc tài vì nó hạ thấp quyền tự do cá nhân và đề cao tính tập thể, đặc biệt khi được diễn giải theo góc nhìn của chủ nghĩa dân tộc hoặc chủ nghĩa nhà nước.
- Mâu thuẫn trong lập luận. Hegel nói riêng Tinh thần tiến triển qua một quá trình biện chứng, bằng cách hóa giải mọi mâu thuẫn, cuối cùng dẫn đến tự nhận thức và tự do sâu sắc hơn, đạt đến đỉnh cao là Tinh thần Tuyệt đối, nơi Tinh thần hiểu rõ chính mình một cách trọn vẹn. Thế thì Tinh thần Tuyệt đối chấm dứt quá trình biện chứng. Điều này mâu thuẫn biện chứng pháp Hegel, vì theo đó, Tinh thần Tuyệt đối phải trở thành một Luận đề mới và bắt đầu quá trình biện chứng mới. Điều này Hegel không nghĩ đến.
A – BIỆN CHỨNG PHÁP VÀ LOGIC
Ngoài những phê bình truyền thống này, về mặt thực tế, biện chứng pháp Hegel chỉ có thể áp dụng trong những trường hợp cô lập, lý tưởng vì phương pháp đó, thực ra, chỉ là một chuỗi dài những quan hệ nhân quả, như đề sinh ra phản đề, rồi phản đề sinh ra hợp đề. Đó là những quan hệ nhân quả. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có những liên hệ không nhân quả. Vài thí dụ:
- Đề, không Phản đề. Những định lý hay định đề toán học không có phản đề. Thí dụ: 2+2=4;
- Một Đề và hai Phản đề. Do Thái giáo có hai phản đề là Kitô giáo và Hồi giáo. Kitô giáo lại có hai phản đề là Chính thống giáo và Tin Lành. Hồi giáo lại có hai phản đề là Sunni và Shia
- Đề, Phản đề và Bổ túc đề. Vật lý Newton có phản đề là Vật lý Tương đối Einstein. Nhưng Vật lý lượng tử, không phải Hợp đề của Vật lý Newton và Vật lý Einstein, mà bổ túc cho hai vật lý kia. Vật lý Newton và Vật lý Einstein là vật lý của thế giới vĩ mô, còn vật lý lượng tử thuộc về thế giới vi mô, nghĩa là vật lý lượng tử không có liên hệ nhân quả với Vật lý Newton và vật lý Einstein.
- Ba Đề sinh ra một Phản đề. Biện chứng pháp Hegel là một chuỗi dài các liên hệ nhân quả, theo đó Phản đề là kết quả trực tiếp của Luận đề. Trong thực tế, nhiều Luận đề có thể sinh ra một Phản đề. Thí dụ:
ĐỀ
Đề 1 (Nhấn mạnh Tự do cá nhân): Niềm tin mạnh mẽ rằng các quyền và tự do cá nhân nên được tối đa hóa, với can thiệp tối thiểu của chính phủ vào các lựa chọn cá nhân. Luận đề này ủng hộ quyền tự quyết và quyền tự chủ.
Đề 2 (Nguyên lý thị trường tự do kinh tế): Niềm tin rằng một thị trường tự do không bị điều tiết, thúc đẩy bởi cạnh tranh cung/cầu, dẫn đến phân bổ hiệu quả nhất các nguồn lực và thịnh vượng chung. Luận đề này ủng hộ việc chính phủ hạn chế quản lý doanh nghiệp và thương mại.
Đề 3 (hoài nghi về tập trung quyền lực): Ngờ vực chung đối với quyền lực tập trung của chính phủ hoặc thể chế lớn, tin rằng nó sẽ dẫn đến tình trạng kém hiệu quả, tham nhũng và kìm hãm sáng kiến cá nhân.
PHẢN ĐỀ
Nhà nước toàn trị: Một hệ thống đặc trưng bởi kiểm soát tuyệt đối của chính phủ đối với mọi khía cạnh của đời sống cá nhân, kinh tế và thông tin, không có chỗ cho bất đồng quan điểm cá nhân hoặc sức mạnh thị trường.
Trong ví dụ này, nhiều luận đề (tự do cá nhân, nguyên tắc thị trường tự do và hoài nghi về tập trung quyền lực) tất cả, từ các góc nhìn khác nhau, đều đối lập trực tiếp với luận đề duy nhất của một nhà nước toàn trị. Mỗi luận đề, độc lập, sẽ thấy các khía cạnh của kiểm soát toàn trị là đáng ghê tởm, và hệ thống toàn trị tạo thành một phản biện mạnh mẽ đối ba quan điểm nói trên.
5. Luận Đề và Phản Đề Xảy Ra Cùng Một Lúc. Ngoài liên hệ nhân quả giữa Luận đề, Phản đề và Hợp đề, còn một liên hệ không nhân quả giữa các hiện tượng mà Carl Jung gọi là Đồng thời tính (synchronicity), theo đó khi một hiện tượng xảy ra, một hiện tượng khác tương tự cũng xảy ra và chúng không có bất kỳ liên hệ nào. Thí dụ, bạn đang nghĩ về một người bạn cũ trong nhiều năm không nói chuyện. Đột nhiên, họ điện hoặc nhắn tin cho bạn cùng ngày hôm đó. Không có giải thích nào hợp lý nào cho thời điểm đó—nó chỉ xảy ra, như thể ma xui, quỷ khiến vậy. Trong giới hạn của biện chứng pháp Hegel, Luận đề và Phản đề có thể xảy ra cùng một lúc, và chúng không có liên hệ nhân quả. Thí dụ về các quan điểm chính trị:
- Luận đề: Ý tưởng về chế độ quân chủ chuyên chế, nơi một người cai trị duy nhất nắm mọi quyền lực theo quyền thiêng liêng, đã xuất hiện độc lập trong nhiều xã hội như một cách để đảm bảo trật tự và ổn định. Thí dụ, thuyết Thiên mệnh của Nho giáo cho rằng ngôi vua là do “Trời định,” còn xuất thân của vua không quan trọng. Đến đầu thế kỷ 20, Tôn Dật Tiên, một người Mỹ gốc Hoa, đem ý tưởng dân tộc, dân sinh và dân quyền của Abraham Lincoln vào TQ, đề cao chủ quyền dân tộc, vua phải là người đại diện dân tộc, đã bác bỏ quan niệm phong kiến của Nho giáo.
- Phản đề: không liên quan đến Luận đề, khái niệm về chủ quyền của nhân dân—rằng quyền lực thuộc về nhân dân và người cai trị phải chịu trách nhiệm—xuất phát từ những nhà tư tưởng Khai sáng như Rousseau và Locke.
Hai ý tưởng này ban đầu không liên quan trực tiếp với nhau; chúng phát triển trong các bối cảnh và thời điểm khác nhau. Nhưng khi chúng gặp nhau trong một biến cố lịch sử nào đó – chẳng hạn Cách mạng Pháp, Cách mạng Mỹ, Cách mạng Tân Hợi 1911 của TQ—chúng tạo nên một Hợp đề mới: nền dân chủ lập hiến, cân bằng quyền lực với các quyền cá nhân.
6. Biện chứng pháp và Hùng biện. Trong nghệ thuật hùng biện, Phản đề thường đi trước Luận đề, và thường được dùng để tiên đoán những phản ứng chống lại Luận đề. Thí dụ, Tổng thống John Kenedy có câu nói rất nổi tiếng và thường được trích dẫn. “Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn. Hãy hỏi, bạn đã làm gì cho tổ quốc!” Trong câu đó, “Đừng hỏi… “ là Phản đề, còn “Hãy hỏi…” là Luận đề. Tương tự, Chúa nói, “Đừng tưởng ta mang an bình cho thế gian, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Ta đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà.” (Mat-Thêu 10:34-36). Đừng tưởng…” là phản đề, còn “Quả vậy…” là Luận đề.
B – BIỆN CHỨNG PHÁP VÀ VẬT LÝ LƯỢNG TỬ
Biện chứng pháp là một chuỗi những liên hệ nhân quả, do đó, cũng cần thời gian để Luận đề trở thành Phản đề, rồi thành Hợp đề; do đó nó cần không gian để biện chứng pháp xảy ra. Tuy nhiên, với vật lý lượng tử, không gian và thời gian chỉ là ảo giác. Trong thí nghiệm 1982 của Alan Aspect, một hạt điện bị tách làm hai; sau đó chúng được bắn về hai hướng khác nhau (Hình 1). Khi khoa học gia đo trục quay của một hạt điện, lập tức hạt kia sẽ có trục quay nhưng ngược lại. Thế thì không có không gian, chẳng có thời gian. Mà không có không gian và thời gian, chẳng có biện chứng pháp. Ngoài ra, Biện chứng pháp Hegel cũng hàm chứa tính tất định (determinism) vì Luận đề dẫn đến Phản đề, rồi Hợp đề. Nhưng trong thí nghiệm sóng, hai hạt điện bắn vào một đích, và giữa nguồn bắn các hạt điện và màn ảnh có một lá chắn có hai khe nhỏ (Hình 2). Kết quả cho thấy các hạt điện có thể xuyên qua một trong hai khe, thậm chí qua hai khe cùng một lúc. Thí nghiệm này chấm dứt tranh cãi nhiều thế kỷ giữa ý chí tự do (free will) và tất định (determinism). Nó cũng bác bỏ tính tất định của biện chứng pháp Hegel.


C – BIỆN CHỨNG PHÁP VÀ CHẤT THẦN THỨC
Trong thí nghiệm 1960 tại Đại học Boston, hai nhà tâm lý Timothy Leary và Richard Alpert chia sinh viên làm hai nhóm, một nhóm dùng giả dược (placebo), nhóm khác dùng nấm ma (Psilocybin). Nhóm dùng giả dược không có báo cáo gì khác thường, nhưng nhóm nấm ma nằm ngổn ngang; có người lẩm bẩm, “Ôi linh thiêng!” Có người la lên, “Ta là Thiên Chúa.” Thế thì thực tại ta đang sống là thực tại giả, chẳng có nhân quả, tất cả đều linh thiêng, không có Luận đề, Phản đề, Hợp đề…
D – BIỆN CHỨNG PHÁP VÀ THẦN KINH HỌC
Theo thần kinh học, trong tình yêu, hay trong thiền định, não phải sáng như pháo bông giao thừa, còn não trái tối như đêm không trăng. Não phải thuộc về trực giác, còn não trái thuộc về lý tính. Nghệ nhân và thi nhân cũng vậy. Lúc họ được cảm hứng, não phải sáng trưng. Nhiều thí nghiệm về trẻ em cho thấy lúc mới sinh đến 5 tuổi, các em đều là thiên tài; đến khoảng 15, số thiên tài chỉ còn 10%, và đến 30, số thiên tài chỉ còn 2%. Sao vậy? Lúc mới sinh đến 5-6 tuổi, các em sống bằng cảm xúc và qua não phải, lý tính chưa xuất hiện. Và khi lý tính xuất hiện khoảng 6-7 tuổi, các em đánh mất tuổi thơ hồn nhiên của mình. Nói theo Cựu Ước, các em đã ăn trái cấm (lý tính) và bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, nghĩa là đánh mất tuổi thơ của mình.
KẾT LUẬN
Bên cạnh những giới hạn của Biện chứng pháp Hegel về mặt logic. Yếu tố có thể bẻ gẫy Biện chứng pháp Hegel chính là vật lý lượng tử. Hegel nói, thực tại là hợp lý. Nhưng theo vật lý lượng tử, thực tại có hai yếu tố tương phản lẫn nhau, vừa là hạt, vừa là sóng. Khi khoa học gia muốn chứng minh thực tại là hạt, kết quả thí nghiệm sẽ là hạt, mà nếu muốn thực tại là sóng, thí nghiệm sẽ ra sóng. Kết quả của thí nghiệm cho ta hai sự thật. Một, nhà khoa học quyết định kết quả của thí nghiệm, nghĩa là ông là một phần của thí nghiệm; nói cách khác, chẳng có cái gọi là “khách quan.” Hai, thực tại bao gồm cả sóng lẫn hạt, nghĩa là thực tại chẳng hợp lý như ý của Hegel. Ngoài ra, mặc dù lý tính làm cho đời đẹp, nó có những kết quả tiêu cực mà nhiều triết gia không thấy.
Albert Einstein nói, trực giác là một món quà thiêng liêng, còn lý tính là một đầy tớ trung thành. Nhưng chúng ta đã tạo ra một xã hội tôn vinh đầy tớ mà quên món quà thiêng liêng đó.
Nhiều phát minh làm quay bánh xe lịch sử nhân loại đều là kết quả khi não phải, hay trực giác chủ động, còn lý tính chỉ là giai đoạn sau, dùng để giải thích, hay lập lý thuyết. Nhưng từ Kỷ nguyên Khai sáng đến nay, triết gia và khoa học gia quá ồn ào, lấn át tiếng nói của trực giác, dẫn đến thảm cảnh ngày nay là chiến tranh triền miên, bất công xã hội, diệt chủng và thanh lọc sắc tộc xảy ra khắp nơi (xem Phần II). Trong một xã hội lý tưởng, văn minh, lý tính phải phục vụ trực giác. Nhưng nhân loại đã ăn phải trái cấm trong thế kỷ 6 TCN dẫn đến sa ngã ngày nay. Trước đó, con người thông minh, sống bằng trực giác, không cần tôn giáo; còn lý tính chỉ được dùng để giải quyết những vấn đề cụ thể của cuộc sống, không phải trò chơi cân não của con người ngày nay. Trước văn minh Ai Cập và văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamia), đã có nhiều nền văn minh nhưng không để lại dấu vết vì họ sống bằng trực giác, và không có nhu cầu phải giải quyết nên không dùng lý trí, và do đó dấu vết của những nền văn minh đó để lại không nhiều, trong đó có các nền văn minh: Egypt (3100-30 TCN), Babylon (1894–539 TCN), Sumer (4500–1900 TCN), Ubaid (c. 6500–3800 TCN), Halaf (c. 6000–4000 TCN), Samarra (c. 5500–4800 TCN), Göbekli Tepe (c. 9600–7000 TCN), Jericho and Çatalhöyük (c. 9000–6000 TCN).
Phần III sẽ bàn về vài biến cố quan trọng đã xảy ra trong thế kỷ 6 TCN, dẫn đến sa ngã của con người ngày nay mà Sartre nói rằng “Con người là một đam mê không cần thiết!” (Man is a useless passion). Vô ích vì con người chỉ là một chuỗi dài các đam mê; và khi đam mê này hoàn thành, lập tức đam mê khác không ngừng tiếp diễn, dù cố gắng bao nhiêu cũng vô ích. Sau một thời gian dài đuổi theo tình yêu, và khi được rồi, lập tức chán và muốn tìm người khác. Đó là hậu quả của việc tôn vinh tên đầy tớ mà quên món quà thiêng liêng là trực giác.
Nhảm nhí nhất của Triết học là cái gọi là “Run rẩy vì sợ hãi” (trembled with fear) của Søren Kierkegaard, tổ sư Triết học Hiện sinh. Trong cuốn “Fear and Trembling,” trọng tâm của “Run rẩy vì sợ hãi” là Abraham được lệnh giết con trai mình là Isaac. Kierkegaard lập luận rằng: (1) Về mặt đạo đức, hành động của Abraham là bất nhân, chẳng khác giết người; nhưng (2) về mặt tôn giáo, hành động tự tay giết con mình thể hiện đức tin tối cao. Điều này dẫn đến cái mà Kierkegaard gọi là “đình chỉ có mục đích của đạo đức” (teleological suspension of the ethical)—người ấy bất chấp nhân tính vì mệnh lệnh đưa ra thiêng liêng hơn, cao cả hơn. Kierkegaard đại diện những người cuồng tín vì đức tin, hay ý hệ. Cầm thú cũng không giết con mình, huống chi người! Trong trường hợp này, Kierkegaard đã dùng lý tính để biện minh cho hành động cuồng tín, mù quáng của con người. Đó là mặt trái xấu xa của lý tính – nó có thể biện minh cho mọi hành động dù bỉ ổi, bất nhân đến đâu! Heidegger, triết gia quan trọng nhất thế kỷ 20, một thời cũng theo đồ tể Hitler! Khoảng tháng 10/2023, Habermas, triết gia Đức quan trọng nhất hiện nay, cũng ủng hộ diệt chủng ở Trung đông. Cho nên nhận ra mặt trái của lý tính là phê phán toàn bộ văn minh tây phương (xem Phần II).
Sartre và Kierkegaard, hai triết gia Hiện sinh, là điển hình con người sống bằng lý tính, luôn luôn bị giày vò giữa những lựa chọn, và phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Ngược lại, người sống bằng ánh sáng của riêng mình, không chấp nhận bất kỳ thẩm quyền nào, không cần tôn giáo, chẳng phân biệt thánh, phàm; mê, ngộ; sang, hèn. Diogene đại diện con người đó. Trên đường chinh phục Ấn độ, Alexander đại đế đến hỏi tội Diogene đang ngồi phơi nắng bên sông. Diogene không thèm đứng dậy, cũng không thèm quay mặt lại chào. Biết không thể khắc phục con người bất năng di vũ, bất năng khuất này, trước khi bỏ đi, Alexander hỏi Diogene muốn gì không. Diogene nói, xin ông đứng qua một bên vì ông đang che nắng của tôi! Đơn giản thế thôi, chẳng cần gì, không ai có thể khuất phục! Người như Diogene dù xuống địa ngục vẫn bình thản như đang tham gia một bi kịch, chấp nhận tất cả, chẳng cần lựa chọn. Đó là khác biệt quan trọng giữa người sống bằng trực giác và sống bằng lý tính. Trực giác theo cảm xúc của mình, không cần lựa chọn lôi thôi. Đạo Đức Kinh, chương 1 viết:
Thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu – lý tính nhìn đâu cũng thấy tranh chấp, chia lìa;
Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu – trực giác thấy tất cả đều kỳ diệu, như thể lạc vào thiên thai.
Xin xem tiếp Phần II – Lý Tính: Diệt Chủng, Chiến Tranh Và Luân Lý Nô Lệ.

