TÂM LÝ Á ĐÔNG
Lúc còn ở Việt Nam, tôi rất thích đọc sách và điều đó cho tôi nhiều kiến thức nhưng thực sự hiểu không bao nhiêu. Sau này tôi nhận ra lý do vì phần đông các tác giả không được huấn luyện về tư duy phản biện nên lập luận rất mơ hồ, lại thiếu dẫn chứng nên muốn hiểu rõ nguồn gốc của những kiến thức đã học được vô cùng khó. Thí dụ, lúc còn ở trung học, tôi nghe các giáo sư văn nói về Kinh Dịch nên cũng tìm đọc xem sách nói gì. Cuốn đầu tiên tôi đọc là Kinh Dịch của Ngô Tất Tố. Sách viết rất cô đọng, vô cùng khó hiểu, lại chẳng giải thích gì. Có lẽ các tác giả đó cũng không hiểu. Một điều duy nhất tôi nhớ trong sách là tác giả nói rằng ngôn ngữ của Kinh Dịch chẳng khác ngôn ngữ của bọn đồng cốt. Thí dụ khác. Một tác giả một thời rất nổi tiếng về thuyết Việt Nho. Hai cuốn ông viết về Kinh Dịch là Dịch Kinh Linh Thể, và Lạc Thư Minh Triết. Đọc xong hai cuốn đó, cảm tưởng của tôi là có lẽ tác giả cũng không hiểu điều ông ấy viết nên rất mơ hồ, có lẽ muốn giấu điều gì đó. Một tác giả khác là bác sĩ Tây Y nhưng thích Triết Đông và từng là giáo sư Triết Đông tại đại học Văn khoa, nay là Khoa học Xã hội, Nhân văn. Thay vì giải thích ý nghĩa các quẻ, ông ấy dùng thơ, vè để dịch các quẻ Dịch. Một tác giả khác từ Mỹ về cũng viết Kinh Dịch. Chương Dẫn Nhập ông ấy nói muốn hiểu Kinh Dịch, phải hiểu tư tưởng của Thomas Kuhn, tác giả cuốn Structure of Scientific Revolution. Thế mà khi giải thích các quẻ Dịch, chẳng thấy Kuhn đâu, mà chỉ thấy copy, dịch từ Hán sang Việt, rồi dán. Điều làm tôi sửng sốt là ông ấy không hề có ý kiến của riêng mình, mà chỉ nói cha này nói thế này, hay ông kia nói thế nọ. Rất tiếc cho công lao đi học xứ người, bằng cấp đầy mình, nhưng vẫn rụt rè, không dám có ý kiến của riêng mình. Mà không những Việt Nam, toàn khối viễn đông cũng vậy. Học giả Trần Trọng Kim, trong cuốn Nho Giáo, nói rằng Nho gia TQ nói gì thì nói, trí thức Việt, Hàn, Nhật không hề có đóng góp gì cả. Cảm nhận của cá nhân tôi là người TQ kể chuyện rất hay, nhưng triết lý thì dở ẹc. Điều này triết gia Hegel cũng xác nhận, TQ không có triết học. Cho nên tôi rất khâm phục những người đọc Kinh Dịch mà hiểu được. Lúc tôi dùng Huyền học Ai Cập để thiết lập nền tảng triết lý và khoa học cho Kinh Dịch, thay vì những nhảm nhí như Hà đồ, Lạc thư, vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng…, một học giả chê đó là “tự biện” nên không có giá trị. Hơn nữa, ông ấy chê tôi không biết chữ Hán mà cũng học đòi viết về Kinh Dịch. Điều này chẳng khác muốn học Hình học Euclid, phải biết chữ Hy Lạp. Đó là bệnh thâm căn cố đế của các học giả Việt; với nhau họ rất ồn ào, ra ngoài rụt rè như gà phải cáo.
DẪN NHẬP
Khi xét các tiêu chí như “sự lâu dài, tầm quan trọng trong nước và sự lan rộng toàn cầu,” học giả thế giới xếp Kinh Dịch ngang hàng với kinh Talmud của Do Thái, Kinh thánh của Kitô giáo, Kinh Koran của Hồi giáo, kinh Bhagavad Gita của Ấn Độ, và Kinh Pháp Hoa của Phật Giáo.1,2 Đó là một trong những tài liệu cổ nhất, huyền bí nhất và bí ẩn nhất trên thế giới, bí ẩn hơn các kim tự tháp của Ai Cập, cổ xưa hơn các kinh Vệ Đà của Ấn Độ, và huyền bí hơn các hình nêm (cuneiform) của Babylon.3 Thật vậy, Kinh Dịch thuộc một truyền thống thần nghiệm cao siêu không thua bất kỳ tôn giáo nào, nếu không nói là cao siêu nhất, vì nó chứa những chân lý tối thượng mà cho đến nay các học giả vẫn chưa nhận ra (chương 4.1, 4,2, 4.3, 4.4, 4.63, và 4.64). Lý do đơn giản là cho đến nay Kinh Dịch vẫn là một độc quyền của người Hoa, và họ đã tạo nên rất nhiều hỏa mù để đánh lừa nhân loại. Những hỏa mù đó có thể kể đến những nhảm nhí như Hà Đồ, Lạc Thư, Vô Cực, Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Âm Dương, Ngũ Hành, Thập Dực… mà Hồ Thích nói là những tà thuyết.
Trong hơn 3000 năm qua, người Hoa, người Việt, người Hàn, người Nhật và Tây Tạng không ngừng bỏ công nghiên cứu Kinh Dịch và tất cả đều cố chứng minh nó là của mình. Không những thế, khi các nhà truyền giáo tây phương đến TQ, họ phải học Dịch để giải thích Kinh Thánh theo quan điểm của Dịch mới được chấp nhận. Ngoài việc nghiên cứu Dịch, họ cũng phải bác cáo và giải thích Dịch cho tòa thánh ở Vatican. Những tài liệu đó đã làm trí thức Âu Châu tò mò. Một trong những trí thức đó là triết gia và toán học Wilhelm Gottfried von Leibniz (1646-1716). Khi được trình bày về bát quái, lập tức Leibniz nhận ra hệ thống nhị phân của Dịch.4 (Nhị phân, dịch từ tiếng Anh – binary – chỉ dùng hai số 0 và 1. Đó là hệ thống của các máy điện toán ngày nay). Kể từ đó nhiều bản dịch sang các ngôn ngữ Âu Châu đã xuất hiện. Tuy nhiên, với bản dịch của Richard Wilheim, Kinh Dịch mới được nhiều người biết đến nhất. Và với lời giới thiệu của nhà tâm lý lừng danh Carl Jung trong bản Anh ngữ, do Cary F. Baynes dịch từ bản Đức ngữ của Wilheim, trí thức Âu, Mỹ mới thực sự quan tâm đến Kinh Dịch.
Trong bài giới thiệu năm 1949, Jung viết: “Trong hơn ba mươi năm tôi đã quan tâm đến phương pháp bói Dịch để khám phá vô thức, vì đối với tôi, nó có tầm quan trọng khác thường”.1 Mặc dù Jung đề cao các phương pháp khoa học và những đối tượng có thể quan sát được, lập lại được, và chứng minh được, ông cũng quan tâm đến những kinh nghiệm chủ quan nội tại tiếp nhận một cách trực tiếp qua trực giác của con người. Và cái đã hấp dẫn Jung là phương pháp Kinh Dịch dùng các đồng xu và diễn giải các kết quả ngay trong thời điểm gieo quẻ rất phù hợp lý thuyết của ông về tính đồng bộ (synchronicity), mà ông gọi là “những trùng hợp có ý nghĩa”.1 Trong những năm cuối đời, biết có người sẽ chỉ trích ý kiến của ông về Dịch, Jung đã viết, “Tôi biết trước đây tôi không dám bày tỏ rõ ràng về một số vấn đề. Nhưng nay tuổi đời đã hơn 80, tôi có thể chấp nhận rủi ro, vì những ý kiến nhất thời của người đời nay hầu như không gây ấn tượng cho tôi nữa; nhưng những lời dạy của các thánh hiền có giá trị đối với tôi hơn những thành kiến triết học của tâm trí phương Tây.5
Những thánh hiền mà Jung ám chỉ đó là Lão Tử, Trang Tử và Khổng Tử, vì truyền thuyết nói cả ba thánh nhân đó đều phải học Dịch. Khổng Tử cũng được nói đã đọc Kinh Dịch đến rách cả lề sách. Điều này, thật ra, là thói quen xưa nay của người Hoa. Khi có những vấn đề giải thích không được, họ đều nói, “Tử viết,” tức là Khổng Tử viết để buộc người đời sau phải chấp nhận một cách vô điều kiện. Khổng Tử cũng được nói đã san định Kinh Dịch và là tác giả của Thập Dực, tức là mười tập sách giải thích Thoán từ và Hào từ của các quẻ Dịch. (Thoán từ là những câu nói ngắn gọn diễn tả ý của toàn quẻ. Mỗi quẻ có sáu hào. Mỗi hào có những câu nói về ý nghĩa của mỗi hào, gọi là Hào từ). Nhưng theo Phùng Hữu Lan, Khổng Tử không san định bất kỳ tác phẩm nào, kể cả Luận Ngữ.6 Bằng chứng Lão Tử, Trang Tử và Khổng Tử không hề học Dịch có thể thấy qua rất nhiều mâu thuẫn trong những giải thích của Kinh Dịch. Lý do có những mâu thuẫn đó vì, mặc dù truyền thống học Dịch đã có hơn 3000 năm, Kinh Dịch vẫn là một bí ẩn vì trong Kinh Dịch có một số quy luật mà văn minh TQ không hề có. Đó là bằng chứng Kinh Dịch thuộc về một nền văn minh khác. Cũng có nhiều bằng chứng từ khảo cổ, chữ viết, thần thoại, âm lịch, ngũ hành… chứng minh nguồn gốc Babylon và Ai Cập của văn minh TQ. Điều này sẽ được bàn trong chương Nguồn Gốc Tây Phương Của Văn Minh TQ.
NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA KINH DỊCH
Mặc dù truyền thuyết nói Lão Tử, Trang Tử và Khổng Tử đều phải học từ Kinh Dịch, những giải thích về Dịch rất mơ hồ và không dựa trên bất kỳ cơ sở lý luận nào cả, và những giải thích đó có rất nhiều mâu thuẫn mà một người được huấn luyện về logic, về toán học có thể nhận ra ngay lập tức. Theo phương pháp phản chứng của toán học, chỉ cần đưa ra một thí dụ chứng minh một lý thuyết nào đó sai, lý thuyết đó sẽ bị bác bỏ hoàn toàn. Năm thí dụ phản chứng được đưa ra để chứng minh những giải thích của Kinh Dịch sai gồm có: (a) Kinh Dịch không có nền tảng triết lý; (b) Thuyết Tam Tài; (c) Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái (d) Địa Trạch Lâm; và (e) Địa Lôi Phục và Sơn Phong Cổ.
A – KINH DỊCH THIẾU NỀN TẢNG TRIẾT LÝ
Một vấn đề liên quan đến Kinh Dịch là có 2 thuyết về bát quái. Thuyết thứ nhất nói Phục Hy thấy con long mã trên sông Lạc Hà có tám vằn trên lưng, rồi từ đó đặt ra Tiên Thiên Bát Quái. Thuyết thứ hai nói thái cực sinh lưỡng nghĩ, lưỡng nghi tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Sau khi có bát quái, cả hai thuyết đều nó lấy 2 bát quái chồng lên nhau để có 64 quẻ có thể giải thích mọi hiện tượng trong vũ trụ này.
Đối với một người được huấn luyện về logic, về toán học, cả hai thuyết này đều có vấn đề. Một nhà toán học có thể xây lý thuyết của mình với một số định đề và định nghĩa nhất định nào đó, nhưng khi đưa những định lý, ông ấy phải dùng những định đề và định nghĩa đó để chứng minh. Thí dụ, hình học có nhiều loại như hình học phẳng của Euclid, hình học cầu của Riemann, hình học tròn của Lobatchevsky, hình học tuyệt đối (absolute geometry), hình học hyperbol (hyperbolic geometry), hình học ellip (elleptic geometry) và nhiều loại khác nữa. Những các hình học này khác nhau vì những định đề và định nghĩa cơ bản, và chúng dẫn đến những định lý khác nhau hoàn toàn và chỉ đúng trong khuôn khổ của những định đề và định nghĩa đó.
Trong trường hợp của Kinh Dịch, những giải thích xưa nay không hề dẫn về những định đề và định nghĩa cơ bản là bát quái, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, Hà Đồ, hay Lạc Thư… Chính vì thế những giải thích xưa nay không có bất kỳ một cơ sở lý luận nào cả. Thí dụ, Càn, quẻ thứ nhất, nói về trời mà có câu, “Quân tử chung nhật càn càn…” (hào 3). Người quân tử liên quan gì với trời? Và quẻ thứ hai, Khôn, nói về đất mà thoán từ quẻ Khôn có câu, “Tiên mê, hậu đắc. Tây nam đắc bằng, đông bắc táng bằng.” Bằng là bằng hữu, là bạn. Đất có liên quan gì với bạn, với mê, với đắc? Đó là hai trong rất nhiều thí dụ những giải thích của Dịch không có bất kỳ cơ sở lý luận nào cả. Một thí dụ khác. Quẻ 63 là Thủy Hỏa Kí Tế. Kí Tế là qua sông, nhưng những người giải thích không hề giải thích thế nào là qua sông. Điều này dẫn đến một vấn đề khác nữa là sau Thủy Hỏa Kí Tế là Hỏa Thủy Vị Tế, quẻ 64, quẻ cuối cùng. Vị Tế nghĩa là chư qua sông. Vì sao theo sau “qua sông” là “chưa qua sông” không hề được giải thích rõ ràng. Đó là một bằng chứng những người giải thích Kinh Dịch không nắm vững vấn đề. Vấn đề thứ hai của hai thuyết này là lý do gì lấy 2 bát quái chồng lên nhau mà không lấy 3, hay 4, hay 5, hay nhiều hơn? Nguyễn Hiến Lê giải thích là nhiều hơn hai thì rối như tơ vò.7 Đó không phải là nguyên tắc của khoa học, của toán học, của triết học. Vì không thể giải thích lý do vì sao lấy 2 bát quái chồng lên nhau mà không lấy 3, hay 4, hay 5, hay nhiều hơn, chỉ có một lý do duy nhất là không ai biết nền tảng triết lý của Kinh Dịch là gì. Chương 3.4 sẽ dùng Luật Số Ba, Luật Số Bảy và Tia Sáng Tạo để có 64 hình, gọi là 64 trùng quái, rồi bằng cách cắt đôi 64 trùng quái để có tám hình, gọi là tám đơn quái.
B – TAM TÀI
Quan trọng hơn cả là thuyết Tam Tài. Mỗi quẻ Dịch có được bằng cách chồng hai bát quái lên nhau, tức là mỗi quẻ có 6 hào. Nhưng lý do gì chồng 2 mà không chồng 3 hay 4 bát quái lên nhau? Không có bất kỳ giải thích nào hợp lý cả. Và trong 6 hào đó, hào 1 và 2 thuộc địa, hào 3 và 4 thuộc nhân, hào 5 và 6 thuộc thiên. Lý do phân 6 hào làm 3 nhóm Địa, Nhân, Thiên – gọi là Tam Tài – không hề được giải thích. Hơn nữa, khi các học giả giải thích một quẻ, hay một hào, Tam Tài không hề được nhắc đến. Lý do là vì không ai hiểu Tam Tài là gì. Đó là ba tác nhân gây ra mọi biến đổi trong vũ trụ này, gọi là Luật Số Ba (law of the three), mà TQ không hề biết (chương 2.2). Hán Chương Vũ Đình Trác viết:8
Tam Tài là một vấn đề rộng lớn trong triết lý Kinh Dịch. Các sách Nho học của Trung Hoa và Nhật Bản thỉnh thoảng nhắc đến hai chữ Tam Tài, nhưng trình bày như một hệ thống triết học chưa có ai khởi thảo. Bộ sách Tam Tài Đồ Hội của các văn gia đời Minh biên soạn gồm sáu cuốn lớn cũng chỉ nói dài rộng về Thiên Văn, Địa Văn và Nhân Văn, theo hình thức ngoại diện với tính cách bác học mà thôi.
Thật ra, Tam Tài cũng không đủ để giải thích một số quẻ Dịch. Thí dụ, Thoán từ quẻ Địa Lôi Phục có câu, “Bảy ngày trở lại. Đó là vận hành của trời đất.” Nó cũng không thể dùng để thiết lập 64 quẻ mà phải phối hợp với các quy luật khác. Chương 3.4 sẽ giải thích lý do vì sao có thuyết Tam Tài.
C – HAI LOẠI BÁT QUÁI
Ngoài Tam Tài, Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái cũng không được giải thích một cách hợp lý. Lý do đơn giản là sau khi những di dân từ Trung Đông đến và mang theo văn minh đến TQ chết đi, triết lý nền tảng của Kinh Dịch cũng bị thất truyền (chương 1.2). Và để lấp khoảng trống đó, người Hoa đã phải dựng lên những nhảm nhí như Hà Đồ, Lạc Thư, Thái Cực… để giải thích Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái, nhưng dấu đầu, lòi đuôi. Ngay cả Hồ Thích cũng phải nói đó là những thuyết sai lầm. Hồ Thích viết trong TQ Triết Học Sử Đại Cương:9
Tôi cho rằng những Hà Đồ, Lạc thư, Sấm vĩ, Tiên thiên, Thái cực… đều là những thuyết sai lầm.


Tuy nhiên, nếu không có Tiên Thiên Bát Quái, sẽ không có tên và thứ tự của 64 quẻ. Thứ tự của 64 quẻ được dùng hiện nay là theo cách xắp xếp của Thiệu Khang Tiết. Nhưng dựa vào thứ tự của Tiên Thiên Bát Quái – Càn nhất, Đoài nhì, Ly tam, Chấn tứ, Tốn ngũ, Khảm lục, Cấn thất, Khôn bát – Lama Anagarika Govinda đã khám phá một số quẻ bị đặt sai thứ tự.10 Mặc dù vậy, ý nghĩa về 2 loại bát quái cho đến nay vẫn còn là một thách đố. Theo Nhân Tử Nguyễn văn Thọ và Huyền Linh Yến Lê, Hậu Thiên Bát Quái được xếp theo thứ tự điên đảo lộn lạo.11 Theo đó thì không biết thứ tự của Hậu Thiên Bát Quái do đâu mà có, mặc dù các học giả của Dịch đều nói khi trị lụt, Đại Vũ nhận được một lá thư trên sông Lạc, gọi là Lạc Thư, rồi sáng chế ra Hồng Phạm Cửu Trù, tức là phép cai trị xã hội nhân quần. Sau đó Văn Vương dựa vào Lạc Thư mà tạo ra Hậu Thiên Bát Quái.12 Thế mà Văn Vương không hề giải thích phương pháp ông ấy đã dùng để tạo ra Hậu Thiên Bát Quái, mặc dù ông là người đã đặt ra 64 Thoán từ, tức là những câu rất ngắn, gọn và rất khó hiểu để nói về mỗi quẻ. Vì ông ấy không để lại phương pháp mà ông ấy dùng để đặt ra Thoán từ, sau này học giả muốn giải thích thế nào thì giải thích. Đòi hỏi duy nhất để hiểu Kinh Dịch là phải biết chữ Hán, chẳng hạn cách họ giải thích Địa Trạch Lâm như sẽ bàn bên dưới. Thật ra, Phục Hy, Đại Vũ và Văn Vương chỉ là những hỏa mù người Hoa đặt ra để che dấu nguồn gốc Kinh Dịch không phải của TQ. Bằng chứng là huyền thoại lụt lớn cả thế giới đều có, không riêng gì TQ. Mà lý do gì cả thế giới đều có huyền thoại về lụt lớn, gọi là đại hồng thủy? Ý nghĩa của huyền thoại đó có thể tìm trong chiêm tinh và trong sinh học. Điều này sẽ được bàn trong chương 3.3.
Thuyết nói rằng Phục Hy sáng chế ra Tiên Thiên Bát Quái và Văn Vương là người đã tạo ra Hậu Thiên Bát Quái như vậy chỉ là những truyền thuyết mà người Hoa đã đặt để lừa cả thế giới từ mấy ngàn năm qua. TQ không hiểu được Kinh Dịch vì nó không phải là một sáng tác của TQ, bởi vì nền tảng của Kinh Dịch xây trên Luật Số Ba (chương 2.2), Luật Số Bảy (chương 2.3) và Tia Sáng Tạo (chương 2.5). Nói về thuyết Phục Hi soạn ra Tiên Thiên Bát Quái (Hình 1.1.1), rồi sau Văn vương sắp lại thành Hậu Thiên Bát Quái (Hình 1.1.2), Nguyễn Hiến Lê viết:7
Thuyết đó chưa tin được: không có gì chứng rằng bát quái trước thời Văn Vương có phải sắp như hình 3 không, mà trong phần kinh của Chu dịch cũng không có chỗ nào nói tới việc Văn Vương sắp lại bát quái.
Chỉ trong phần truyện (Thuyết quái truyện, Chương III) chúng ta thấy câu này: “Trời và đất vị trí định rồi, cái khí (khí lực) của núi và chằm (hồ) thông với nhau, sấm gió nổi lên với nhau, nước và lửa chẳng diệt nhau, tám quẻ cùng giao với nhau (Thiên địa định vi, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc thủy bất tương xạ, bát quái tương thác).
Trong đoạn đó tác giả sắp bát quái thành từng cặp trái nhau như trong Hình 1.1, càn với khôn, cấn với đòai, chấn với tốn, li với khảm.
Nhưng trong Chương V cũng thuyết quái truyện lại có câu “đế xuất hồ chấn”: Vị chủ tể trên trời xuất hiện ở phương chấn, thì lại hợp với Hình 1.2 vì hình này đặt chấn ở phương đông (phương mặt trời mọc) còn Hình 1.1 đặt chấn ở đông bắc (chúng ta nên nhớ trên các bản đồ thời cổ của Trung Hoa, bốn phương đặt ngược với bản đồ ngày nay nghĩa là họ đặt bắc ở dưới, nam ở trên, đông ở bên trái, tây ở bên mặt).
Cũng theo Nguyễn Hiến Lê.7
Hai tên đó không có trong Kinh Dịch, hiển nhiên là do người đời sau, hoặc một đời Hán, hoặc Thiệu Khang Tiết đặt ra.
Tiên Thiên Bát Quái có nghĩa là bát quái tượng trưng vũ trụ (thiên) hồi đầu, Hậu Thiên Bát Quái tượng trưng vũ trụ hồi sau. Hồi đầu là hồi nào? Hồi sau là hồi nào? Không ai biết chắc. Có người giảng hồi đầu là hồi vũ trụ còn vô hình, hồi sau là hồi vũ trụ đã thành hình. Vô lý: khi vũ trụ còn vô hình thì sao đã có núi, có chằm?
So sánh hai hình 1.1 và 1.24, chúng tôi thấy vị trí của các quẻ thay đổi hết: Hình 1.1, Càn ở Nam, Khôn ở Bắc, Ly ở Đông, Khảm ở Tây… Hình 1.2, Càn ở Tây Bắc,Khôn ở Tây Nam, Li ở nam, khảm ở bắc…
Nếu quả là do Văn Vương sắp lại bát quái thi tại sao ông lại thay đổi như vậy? Ông để Li ở phương Nam, có lý, mà để Khảm ở phương Bắc, kể như cũng có lý. Vì Khảm trái với Li, nước trái với lửa, Bắc trái với Nam. Nhưng tại sao ông không cho Càn đối với Khôn, như trong hình 1.1? mà cho nó đối với Tốn? và khôn đối với Cấn…
Chúng tôi thú thật không hiểu nổi. Kinh Dịch không giảng gì cho ta về những điểm đó cả. Trong Kinh Dịch còn có nhiều điều khó hiểu nữa, chúng ta đành phải chấp nhận thôi.
Ý kiến của Nguyễn Hiến Lê chứng tỏ người Hoa chẳng hiểu gì về Hậu Thiên Bát Quái và Tiên Thiên Bát Quái. Họ cũng không hiểu vì sao có hai loại bát quái. Theo người viết này, Tiên Thiên Bát Quái là 8 lực đặc biệt của Luật Số Ba và chúng hiện diện khắp nơi và lúc nào cũng có, nghĩa là không tùy thuộc không gian, cũng không tùy thuộc thời gian. Thế thì nói Càn của Tiên Thiên Bát Quái thuộc phương nam là không hiểu Tiên Thiên Bát Quái. Ngược lại, Hậu Thiên Bát Quái là 8 giai đoạn của một chu kỳ biện chứng từ khởi đầu đến chung cuộc, tức là bát quái theo thời gian. Thế thì nói Càn của Hậu Thiên Bát Quái thuộc tây-bắc là lẫn lộn thời gian với không gian. Chương 3.3 sẽ giải thích giải thích ý nghĩa của 12 con giáp, rồi từ đó giải thích thứ tự và ý nghĩa của Hậu Thiên Bát Quái, và từ đó suy ra ý nghĩa của Tiên Thiên Bát Quái.
D – ĐỊA TRẠCH LÂM
Địa Trạch Lâm là một thí dụ phản chứng, chứng minh những giải thích của Kinh Dịch là sai. Trước hết, phải hỏi Lâm là gì? Nguyễn Hiến Lê trong Kinh Dịch: Đạo của Người Quân Tử viết:7
Lâm có nghĩa là lớn. Nhưng Lâm còn có nghĩa nữa là tới (như lâm chung là tới lúc cuối cùng, tới lúc chết; hoặc lâm hạ: người trên tới người dưới).
Theo BS Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê, trong Dịch Kinh Đại Toàn, Lâm nghĩa là Lâm Hạ:11
Quẻ Lâm có 2 Hào Dương ở dưới, bốn Hào Âm ở trên, nói lên cái thế đương lên của Dương khí, cũng như của người quân tử. Vì thế Lâm báo trước một thời kỳ thịnh đạt. Lâm trên là Khôn = Đất, dưới là Đoài = Hồ. Bờ hồ và hồ nước tiếp cận mật thiết với nhau. Cho nên quẻ Lâm mượn tượng này mà đề cập đến sự thân yêu, thành khẩn tiếp súc với dân của những người cầm quyền.
TS Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh, trong Kinh Dịch và Cấu Hình Tư Tưởng TQ, viết về quẻ Lâm theo Richard Wilhelm như sau:13
Lâm trong tiếng TQ có rất nhiều nghĩa khác nhau mà không có từ nào trong một ngôn ngữ khác có thể múc cạn hết. Những giải thích cổ xưa về Kinh Dịch cho rằng ý nghĩa đầu tiên của nó là “Trở nên vĩ đại” (becoming great=sắp lớn). Điều trở nên vĩ đại là hai hào dương vươn lên toàn quẻ từ phía dưới… Sức mạnh rực rỡ lớn mạnh dần với hai hào này. Ý nghĩa kế đó được mở rộng để bao gồm lên khái niệm tiếp cận (approach), đặc biệt là tiếp cận với những gì mạnh mẽ và có vị trí cao tương quan với những gì thấp hơn. Cuối cùng ý nghĩa bao gồm thái độ của một người đang ở vị trí cao đối với nhân dân và nói chung là bối cảnh để tiến hành nhân sự. Quẻ này liên quan đến tháng 12 (tháng 1 và tháng 2) sau tiết Đông chí, ánh sáng bắt đầu đi lên, mỗi lúc một sáng hơn. (Nhấn mạnh của người viết).
Thế thì theo những tác giả nói trên, Lâm đều có nghĩa là “sắp lớn,” và cách tiếp cận của người trên đối với người dưới. Cả hai định nghĩa này đều có vấn đề.
Trước hết là “sắp lớn.” Địa Trạch Lâm có bốn hào âm bên trên và hai hào dương bên dưới (Hình 1.1.3). Theo ý nghĩa này, các học giả Kinh Dịch đều đặt Lâm tại Sửu – sắp lớn. Thế thì lớn là Càn với sáu hào dương tại Tị. Vấn đề là ở chỗ đó. Mới có hai dương mà đã cho là “sắp lớn.” Vậy thì sao không chờ đến Trạch Thiên Quải (Hình 1.1.4) có một hào dương bên trên và năm hòa dương bên dưới hãy gọi là “sắp lớn”? Ba hào dương, bốn hào dương thì sao? Đó là một lối suy luận ngụy biện và không dựa trên bất kỳ cơ sở lý luận nào cả. Hơn nữa, đặt Lâm tại Sửu cũng sai vì hậu qủa là Càn, gồm 6 hào dương sẽ nằm tại Tị, thay vì Ngọ. Điều này không hợp lý vì Ngọ là lúc mặt trời gần trái đất nhất, khí dương phải mạnh nhất tại Ngọ, không phải tại Tị.


Hai là “cách tiếp cận của người trên đối với người dưới.” Đó là một cách ngụy biện khác vì lớn và nhỏ chỉ có giá trị tương đối. Một tên ăn mày đối với xã trưởng là nhỏ. Mà so xã trưởng với quận trưởng, tỉnh trưởng là nhỏ. Trong xã hội hiện đại đầy phức tạp hiện nay, khó có thể xác định cái gì lớn, cái gì nhỏ. Cho nên căn cứ vào đâu để phân biệt lớn với nhỏ. Hơn nữa, như sẽ được bàn trong chương 3.1, Kinh Dịch quan tâm đến những những chân lý tối thượng và những phương pháp để giải thoát con người, chứ không quan tâm đến những chuyện tầm phào như người trên với kẻ dưới.
Mà dù chấp nhận hai ý nghĩa này, Địa Trạch Lâm có câu, “Bát nguyệt hữu hung,” tức là tám tháng, hay tháng tám sẽ có tai họa. Tại sao sắp lớn sẽ có tai họa? Tám tháng, hay tháng tám có liên quan gì với chuyện tiếp xúc với dân của những người cầm quyền không? Căn cứ vào đâu mà nói tám tháng, hay tháng tám? Về câu “Bát nguyệt hữu hung,” Nguyễn Hiến Lê viết:7
Mới đầu là quẻ Khôn, 5 hào âm.Một hào dương tới thay hào 1 âm ở dưới, rồi một hào dương nữa tới thay hào 2 âm, thành ra quẻ Lâm. Thế là dương cung lớn dần, tới ngày thịnh lớn, nên gọi là Lâm. Trong cảnh hanh thông, đừng nên phóng túng mà nên giữ vững chính đạo, (lợi trinh): nếu không thì đến tháng 8 (hoặc tám tháng nữa) sẽ hung. Có nhiều thuyết giảng hai chữ “bát nguyệt” ở đây chúng tôi không biết tin thuyết nào chỉ xin hiểu đại ý là “sau này sẽ hung”; mà không chép những thuyết đó.
Thế thì theo Nguyễn Hiến Lê, giải thích như thế về mấy chữ, “Bát nguyệt hữu hung,” tức là tám tháng, hay tháng tám có tai họa chỉ là một loại đoán mò. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê viết về “Bát nguyệt hữu hung,” như sau:11
Gặp thời cơ thái thịnh, hanh thông, mà mình vẫn giữ được chính nghĩa (Đại hanh dĩ chính), mới là đi đúng đường lối của Trời Đất (Thiên chi đạo dã). Vả nay mình thịnh, nên nghĩ tới một ngày kia mình suy. Nay mình còn tại chức, nên nghĩ tới một ngày kia mình phải lui chân. Mà cái ngày ấy chẳng có xa, như quẻ Lâm sau 8 tháng lại đến quẻ Bỉ vậy (Chí vu bát nguyệt hữu hung. Tiêu bất cửu dã ).
Đúng là sau Lâm tám quẻ là quẻ Bỉ, tức là bế tắc, xấu xa, tai họa. Nhưng vấn đề là theo phương pháp lấy một quẻ đặt cho mỗi tháng thì Lâm là tháng 12 tại Sửu, mà Bỉ là tháng 8 nằm tại Dậu. Vấn đề là ở chỗ đó. Theo Hậu Thiên Bát Quái, Dậu thuộc cung Đoài, mà Đoài là vui vẻ. Tai họa mà vui vẻ sao? Giải thích này không thể chấp nhận được. Vả lại, theo Luật Thứ Hai của Nhiệt Động Lực học, từ “sắp lớn,” đến “lớn” đòi hỏi một nguồn năng lượng bên ngoài. Năng lượng đó do đâu mà có? (chương 2.3).
Nói về câu “Chí vụ bát nguyệt,” TS Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh, theo Cao Hanh, viết như sau:13
Chí vụ bát nguyệt có nghĩa là nếu muốn cử hành tế lễ mà gieo được quẻ này thì có lợi, nhưng chỉ trong vòng tám tháng thôi, nếu ngoài tám tháng thì không được, sẽ gặp xui.
Tế lễ cũng sợ xui sao? Mà tại sao tám tháng, thay vì ba tháng, bốn tháng? Cao Hanh là ai? Ông ấy có phải là người có thẩm quyền về lãnh vực này không? Hay chỉ vì biết chữ Hán, ông ấy muốn giải thích kiểu nào cũng được sao? Những đám hủ Nho như Cao Hanh, Thiệu Khang Tiết, Chu Hy…. đã biến toàn khối Á Đông thành một khối tin những nhảm nhí như Bói Dịch, Tử Vi, Độn Giáp, Mai Hoa Dịch Số, Thái Ất, Tử Bình, Phong Thủy, Địa Lý… Trong Dịch Hệ Từ có rất nhiều câu “Tử viết,” tức là Khổng Tử viết. Đó là thói quen của người Hoa. Những gì không giải thích được thì gán cho Khổng Tử. Tội nghiệp Khổng Tử! Chết đã hơn 2500 năm rồi mà nằm dưới mồ vẫn không yên. Nếu Khổng Tử đội mồ sống lại, ông cũng không thể nói theo cách đã nói như trước, mà phải dựa trên một cơ sở lý luận nào đó. Cách nói theo kiểu thánh phán ngày xưa đã qua lâu rồi.
Qua sự phân tích bên trên về Địa Trạch Lâm theo các học giả ngày trước, ta có thể kết luận những người giải thích Kinh Dịch xưa nay đều đoán mò vì không dựa vào bất kỳ hệ thống triết lý, hay bất kỳ một cơ sở lý luận nào cả, mà chỉ nói bừa. Một trong nhiều lý do họ không giải thích được Địa Trạch Lâm vì không hiểu ý nghĩa của 12 con giáp, vốn là một sản phẩm của Babylon và Ai Cập cổ xưa. Chương khác sẽ dùng Hậu Thiên Bát Quái để giải thích ý nghĩa của Địa Trạch Lâm.
E – ĐỊA LÔI PHỤC VÀ SƠN PHONG CỔ
Ngoài Địa Trạch Lâm, còn rất nhiều mâu thuẫn trong sự giải thích các quẻ Dịch mà cho đến nay các học giả của Kinh Dịch vẫn chưa nhận ra. Một thí dụ là quẻ Phục và quẻ Cổ. Phục nghĩa là trở lại. Cổ là đổ vỡ, mục rữa, suy tàn:13
Thoán từ quẻ Phục có câu, “Phản phục kỳ Đạo, thất nhật lai phục,” nghĩa là Vận trời phản phục (tráo đi trở lại), cứ bảy ngày thì trở lại.^7 Theo giải thích của tất cả các sách viết về Dịch, từ tháng 5 (quẻ Cấu) khí âm bắt đầu sinh, đến tháng 10 (quẻ Khôn) khí âm cực đại, qua tháng 11 (quẻ Phục), khí dương bắt đầu sinh. Các học giả Kinh Dịch đều giải thích từ tháng 5 đến tháng 11 là 7. Và theo Nguyễn Hiến Lê, từ tháng 5 đến tháng 11 mới là 6, nhưng là 7 theo cách đếm của người Hoa.
Tạm thời ta có thể chấp nhận giải thích này. Nhưng thoán từ quẻ Cổ viết, “Tiên giáp tam nhật, hậu giáp tam nhật.” Câu này được dịch là, “Ba ngày trước ngày giáp, ba ngày sau ngày giáp.” Ý nghĩa của câu này được hiểu là: “Ba ngày trước ngày giáp, là ngày tân và ba ngày sau ngày giáp là đinh.” Tân là tân khổ. Đinh là đinh ninh. Từ “tân” đến “giáp” là 3 – tân, nhâm, quý, giáp. Và từ “giáp” đến “đinh” cũng là 3 – giáp, ất, bính, đinh. Lần này người Hoa không đếm là 4 như quẻ Phục mà là 3! Ahhh! Giải thích này không những là một ngụy biện, mà còn mâu thuẫn với quẻ Phục mà các học giả vẫn không nhận ra. Cổ, theo Richard Wilhelm, nghĩa là đổ vỡ, mục rữa, suy tàn:13
Ngụy biện thứ hai là căn cứ vào đâu để quả quyết ba ngày giáp, đinh và tân là đổ vỡ, mục rữa, suy tàn? Giáp là giai đoạn đầu một chu kỳ gồm 10 giai đoạn – giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý. Thế mà ngay giai đoạn đầu đã đổ vỡ rồi! Ngay lúc đầu đã đổ vỡ, bằng cách nào nó có thể kết thúc chu kỳ được? Không những thế, trong một chu kỳ có 3 lần đổ vỡ là giáp, đinh, và tân. Theo luật thứ hai của nhiệt động học, mọi hiện tượng từ xấu trở thành tốt, từ thấp lên cao, từ suy tàn lên thịnh vượng, đều làm cho entropy tăng lên. Theo đó từ xấu trở thành tốt, thấp lên cao, từ đổ vỡ đến tốt lành phải có năng lượng bên ngoài để cân bằng entropy (chương 2.3). Năng lượng đó từ đâu mà có để từ giáp lên đến đinh, rồi từ đinh đến tân, và cuối cùng từ tân đến giáp?
Ngụy biện thứ ba mà các học giả xưa nay của Dịch cũng không nhận ra là nếu gắn một ngày với một can (thập thiên can), tức là cứ 10 ngày giáp lại trở thành giáp, nghĩa là 10 ngày trở lại. Điều này mâu thuẫn với quẻ Phục – Phản phục kỳ Đạo, thất nhật lai phục. Cứ bảy ngày trở lại, không phải 10.
Một ngụy biện khác là ngày không phải chỉ có can mà còn có chi. Thế thì cứ 60 ngày giáp tí lại thành giáp tí. Lại mâu thuẫn với quẻ Phục. Vì sao là 60? Can có 10 can. Chi có 12 chi. Vậy thì bội số chung nhỏ nhất của 10 (2×5) và 12 (2×6) là 60 (2x5x6). Tức là can bắt đầu với giáp và đến 10 thì bắt đầu lại thành giáp. Chi bắt đầu với Tý và đến 12 lại thành Tý. Can và chi cứ thế tiếp tục, bắt đầu với giáp tý thì sau 60 ngày lại trở thành giáp tý.
F – HIỂU LẦM Ý NGHĨA CỦA CHỮ “GIÁP”
Những mâu thuẫn trong lời giải của Phục và Cổ đưa đến ba kết luận. Một là cho đến nay Kinh Dịch chưa được hiểu một cách đúng đắn vì nó không phải là một sản phẩm của văn minh TQ. Hai là người Hoa không được huấn luyện về logic. Điều này đã được triết gia Hegel xác nhận: TQ không có khả năng triết lý:15,16 Ba, từ “giáp” trong câu “Tiên giáp tam nhật, hậu giáp tam nhật” đã bị hiểu lầm. “Giáp” trong câu đó là sát cạnh nhau, không phải ngày giáp. Khi nói, “Giáp mặt với kẻ thù,” là chạm mặt và nhìn thẳng vào mặt kẻ thù! “Giáp năm” là những ngày cuối năm. Trong Kiều có câu, “Trướng tô giáp mặt hoa đào, vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa,” thì “giáp” trong câu đó không có nghĩa là “giáp” của thập thiên can, mà là sát mặt nhau. Vậy thì câu “Tiên giáp tam nhật, hậu giáp tam nhật,” phải hiểu là “Ngay trước ba ngày, ngay sau ba ngày,” hoặc phải dịch là, “Giáp trước ba ngày. Giáp sau ba ngày.”
H – NÃO TRÁI, NÃO PHẢI
Bằng chứng khác chứng minh Kinh Dịch không phải của TQ là não trái và não phải. Mã đến 1960 Roger Sperry mới khám phá chức năng của não bộ, nhưng Kinh Dịch đã biết từ lâu. Hào 5 quẻ Kí tế 63 viết, “Đông lân sát ngưu, bất như tây lân chi thược tế, thực thụ kì phúc.” Có người dịch là “Hàng xóm bên đông mổ bò (làm tế lễ lớn) mà thực tế không hưởng được phúc bằng hàng xóm bên tây chỉ tế lễ sơ sài.” Và giảng là “Hàng xóm bên đông là hào 5, bên tây là hào 2. Cả hai hào đều đắc trung, đắc chính, lòng chí thành ngang nhau; 5 ở địa vị chí tôn làm lễ lớn, nhưng được hưởng phúc thì 2 lại hơn 5, chỉ vì 2 gặp thời hơn; 2 ở vào đoạn đầu Kí tế sức tiến còn mạnh, tương lai còn nhiều; 5 ở vào gần cuối Kí tế, lại ở giữa quẻ Khảm (hiểm), tiến tới mức chót rồi, sắp nguy, thịnh cực thì phải suy.” Đó là ngụy biện. Mỗi quẻ có 6 hào chồng lên nhau; thấp nhất là hào 1, cao nhất là hào 6. Thế thì nói 5 là Tây, còn 2 là Đông là ngụy biện.
Lại có người giảng rằng “Hàng xóm bên Đông” là nhà Thương tế lễ rất hoành tráng, còn “Hàng xóm bên Tây” là nhiều Chu tế lễ rất sơ sài. Lại ngụy biện! Khi nói “Hàng xóm” tức là phải ở với nhau trong cùng một thời gian và phải gần trong không gian. Nhưng Thương và Chu là hai triều đại khác nhau. Và theo nhiều sử gia, nhà Thương thuộc về huyền sử vì dấu vết của triều đại đó không có nhiều. Cho nên nói rằng Thương và Chu là hai hàng xóm là quá gượng ép. Vả lại, có bằng chứng là nhà Thương tế lễ hoành tráng, còn nhà Chu tế lễ sơ sài không?
Vậy thì “Hàng xóm bên Đông” là nửa người bên phải, do não trái kiểm soát, thiên về lý tính. Còn “Hàng xóm bên Tây” là nửa người bên trái, do não phải kiểm soát, thuộc về cảm xúc. Đó là hai chức năng của não bộ. Lý tính hướng ngoại, dựa vào khoa học làm cho dân nước mạnh – nghĩa là “mổ trâu ăn mừng.” Còn cảm xúc hướng nội, đưa vào trung tâm bản thể của mình mà tìm được cái bất sinh, bất diệt. Đó mới thực sự có phúc.
NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA KINH DỊCH
Những mâu thuẫn trong giải thích của hai quẻ Phục và Cổ chứng tỏ Kinh Dịch có một quy luật cứ 7 ngày trở lại (Phục), và “Giáp trước ba ngày. Giáp sau ba ngày” mà TQ không hề có. TQ cổ đại cũng không biết não bộ có hai nửa.
Những quy luật này ẩn tàng trong Kinh Dịch mà trong văn minh TQ không biết. Đó là bằng chứng nguồn gốc của Kinh Dịch không phải TQ. Đó cũng là quan điểm của Albert Terrien de Lacouperie. Khi so sánh các quẻ Dịch với hình nêm của Babylon, ông ấy đã đưa ra giả thuyết nguồn gốc Babylon của văn minh TQ:16 Tuy nhiên, vì chỉ là một nhà ngữ văn, không phải thần nghiệm, ông không nhận ra nền tảng triết lý của Kinh Dịch. Nền tảng ấy xây trên Luật Số Ba, Luật Số Bảy và Tia Sáng Tạo. Luật Số Ba – chính là Tam Tài – là ba lực gây ra mọi biến đổi trong vũ trụ này. Luật Số Bảy (law of the seven) là những phương thức mà mọi biến đổi, do Luật Số Ba gây ra, đều phải tuân theo. Luật Số Bảy chính là quy luật ẩn tàng trong hai quẻ Phục và Cổ. Hai quy luật này dẫn đến mô hình thần nghiệm của vũ trụ, và nó giải thích được nhiều vấn đề của vũ trụ học, thí dụ, vì sao vũ trụ luôn luôn mở rộng và không thể bị huỷ diệt như quan điểm của nhiệt động lực học. Từ mô hình này mà có Tia Sáng Tạo giải thích sự ra đi từ một nguồn chung và trở về của vạn vật. Tia Sáng Tạo cũng là nguồn gốc của sự sống vì nó có cùng cấu trúc với cấu trúc của DNA, RND và 64 quẻ Dịch. Tia Sáng Tạo cũng được dùng để giải thích những chân lý tối thượng nhất của Ấn Độ Giáo, Lão Giáo, Ki Tô Giáo và Phật Giáo.
CHÚ THÍCH
1 – Gregg, Carl. (2014). Why Jung Threw the Yijing (or I Ching) and Why Might You? Retrieved from http://www.patheos.com/blogs/carlgregg/2014/01/yijing-and-jung/
2 – Smith, Richard. (2012). “The I Ching”: A Biography (Lives of Great Religious Books) (Princeton University Press, 2012), trang 13.
3 – Carus, P. (1974). Chinese Astrology. Retrieved from http://www.shadowsgovernment.com/shadows-library/Paul%20Carus%20-%20Chinese%20Astrology.pdf
4 – Smith, Richard. (2001). Jesuit Interpretations of the Yijing. International Consortium for Research in the Humanities. Retrieved from http://www.ikgf.uni-erlangen.de/content/articles/Richard_J_Smith_-_Jesuits_and_Yijing.pdf
5 – Baruth, D. (1999). Foreword to the I Ching – By C. G. Jung http://www.iging.com/intro/foreword.htm
6 – Fung, Yu-lan (1997). A Short History of Chinese Philosophy. Free Press; Reissue edition, trang 39.
7 – Nguyễn Hiến Lê. Kinh Dịch: Đạo của Người Quân Tử. Retrieved from http://dulieu.tailieuhoctap.vn/books/khoa-hoc-xa-hoi-nhan-van/xa-hoi-hoc/file_goc_777930.pdf
8 – Hán Chương Vũ Đình Trác, Triết lý Nhân Bản Nguyễn Du, California, 1993, trang 91.
9 – Hồ Thích. TQ Triết Học Sử Đại Cương. Minh Đức dịch. Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, p. 138.
10 – Lama Anagarika Govinda, The Inner Structure of The I Ching, Wheelwright Press, 1981.
11 – Bác sĩ Nguyễn văn Thọ và Huyền Linh Yến Lê, Kinh Dịch Đại Toàn, California, 1997, tập II, trang 249.
12 – Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ. HÀ ĐỒ & LẠC THƯ. Retrieved from http://nhantu.net/DichHoc/HaDoLacThu/HadoLacthu.htm
13 – TS Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh. Kinh Dịch và Cấu Hình Tư Tưởng TQ. NXB Khoa học và Xã hội.
14 – Hegel, Lectures on the History of Philosophy, Vol. 1.
15 – Liu, J. (2009). Converting Chinese Philosophy into the Analytic Context. Retrieved on 1/1/2016 from http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.584.4166&rep=rep1&type=pdf
16 – Terrien de Lacouperie. (1989). Western origin of the early Chinese civilisation from 2,300 B. C. to 200 A. D. Retrieved from https://archive.org/stream/westernoriginofe00terrrich/westernoriginofe00terrrich_djvu.txt

