ĐÔI CÁNH GIỮA ĐỜI

Fber Joseph Hồ Đình Trinh viết, “Tuann Nguyen mến : Con hay chia sẻ vui với nhiều người , trong đó có vợ con và người thân yêu của con : Đi vào con đường yêu mến triết học ( hay triết gia ) như đi vào con đường Tu Trì . Nó không đơn giản là một cái nghề để kiếm tiền như bao nghề . Nó là một sứ mệnh bà đỡ tinh thần ngõ hầu khơi lên trong con người biết lối đi chân – thiện – mĩ , ngõ hầu làm cho con người nhận biết ra mình khác biệt thế giới các loài vật khác ở chỗ nào ….Chính vì thế , sứ mệnh đó không thể quy thành giá trị đồng tiền lương để sống nhưng nó chỉ cần được yêu mến và đón nhận . Thực ra , một cách vô thức , trong nhân loại này , tất cả phải cảm ơn hàng triết gia và tu sĩ muôn vạn lần các ngành nghề khác .”


ĐÔI CÁNH GIỮA ĐỜI

Một ngụ ngôn đầy ý nghĩa liên quan đến hai chức năng của não bộ. Trong một bìa rừng có hai tên ăn mày, một mù, một què. Thằng mù có chân nhưng không có mắt. Còn thằng què có mắt nhưng không có chân. Một hôm rừng cháy. Hai thằng tìm kế thoát thân. Thằng què nói với thằng mù: tôi có mắt nhưng không có chân chạy. Còn anh có chân nhưng không có mắt. Vậy anh hãy cõng tôi để tôi chỉ đường cho anh chạy. Bằng cách đó hai thằng thoát chết.

Thằng mù có chân chạy tượng trưng lý tính. Nhờ có chân nên nó có thể lăng xăng đầu tư đủ cách để làm giàu. Giữa lá bài The Wheel of Fortune X của Tarot có một bánh xe liên tục quay. Một bên bánh xe là một con rắn, còn bên kia là một con chó. Rắn tượng trưng quyền lực tối cao, hay tột đỉnh vinh hoa phú quí vì rằn gây khiếp sợ. Còn chó tượng trưng thần chết vì trong những bộ tộc bán khai, chó thường đào những mộ mới chôn để ăn thịt người chết. Thế thì bánh xe có rắn và chó tượng trưng luân hồi: cả đời cố gắng đủ cách để tìm quyền lực tối cao, hay tột đỉnh vinh hoa (lý tính), nhưng cuối cùng thần chết xóa sạch.

Tương tự, trong huyền sử sa ngã của Do thái-Kitô giáo, rắn cũng tượng trưng quyền lực tối cao, hay tột đỉnh vinh hoa. Muốn đạt được mục đích đó, ta phải theo lý tính để đặt kế hoạch hành động. Trong huyền sử sa ngã đó Cây Hiểu biết tượng trưng lý tính hay não trái, còn Cây Sự sống tượng trưng trực giác hay cảm xúc. Khi ăn trái cây Hiểu biết, ta sẽ đạt được quyền lực tối cao, hay tột đỉnh vinh hoa nhưng đánh mất tuổi thơ hồn nhiên của mình, nghĩa là bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng.

Đó là một cách để tìm chân lý, hay não trái. Lý tính nhìn ra bên ngoài, tìm những quy luật của vũ trụ, hay xã hội để phụng sự đời sống, làm cho đời đẹp. Tuy nhiên, vì mải mê với những hào nhoáng bên ngoài, ta quên chính mình, quên sự sống, tượng trưng bởi Cây Sự sống.

Cách khác để tìm chân lý là trực giác, hay não phải, cảm xúc. Qua âm thanh, vần điệu nhịp nhàng, thi ca và nghệ thuật đưa ta về thời thơ ấu trước khi lý tính xuất hiện. Trong khoảnh khắc đó thời gian gần như ngừng lại, không gian tưởng như biến mất. Tuy nhiên, vì mải mê với cảm xúc, ta bỏ bê cuộc sống và trở nên nghèo đói.

Thế thì hai phương pháp đó không để giúp ta sống đời sung túc và đầy ý nghĩa. Herbert Marcuse gọi đó là những con người một chiều (One Dimensional man). Jung nói rằng con người là một thực thể hữu hạn nhưng muốn tìm đến cái vô hạn; tuy nhiên, Jung không chỉ cho ta phương pháp tìm đến cái vô hạn đó. Kết quả là con người không sinh ra để được hạnh phúc. Freud cũng nói vậy. Freud nói rằng con người sinh ra với tất cả những bản năng đòi hỏi khoái lạc, gọi là Id; nhưng vì sống trong xã hội đầy những cấm kị, gọi là siêu ngã (super-ego), không cho phép những đòi hỏi đó được thoả mãn; nhưng kiềm chế quá sẽ gây ra rối loạn thần kinh và cần một người hòa giải, gọi là bãn ngã (ego), để thương lượng giữa Id và siêu ngã. Thế thì định mệnh con người không muốn ta được hạnh phúc. Freud ví tình cảnh con người như người cỡi ngựa mà ngựa không chịu đi về hướng chủ muốn, mà chủ phải theo ý ngựa!

Vậy có cách nào thoát được định mệnh buồn thảm đó không? Osho gọi hai loại tâm trí đó – lý tính và trực giác – là tâm trí có nội dung vì chúng là hai chức năng của não bộ, không ngừng dao động giữa suy tư và cảm xúc. Thế thì cách còn lại là tìm đến tâm trí không nội dung, hay tâm bất ngại. Tâm trí không nội dung là tâm trí không có khách thể (objects) – không suy tư, cũng không cảm xúc; mà khi khách thể biến mất, chủ thể (subjects) không còn đối tượng để quan sát, nó trở lại quan sát chính nó. Lúc đó hai não biến thành một – não trái không bị suy tư trói buộc, còn não phải không vướng trong cảm xúc. Đó là ý Chúa nói trong Phúc âm Tô-Ma, “Khi biến hai thành một… các ông sẽ vào được Nước Trời.” Khoảnh khắc khi hai não thành một, Meister Eckhart nói, “Con mắt mà tôi nhìn Thiên Chúa cũng là con mắt mà Thiên Chúa nhìn tôi, cùng một tình yêu, cùng một hiểu biết.”

Một trong những phương pháp để đạt đến tâm trí không nội dung là gạt bỏ mọi ý tưởng xuất hiện trong tâm trí – Áo nghĩa thư (Upanishad), gọi là NETI NETI – không phải cái này cũng không phải cái kia, và ta phải tiếp tục không ngừng cho đến khi tâm trí không còn bất kỳ ý tưởng nào nữa, bởi vì người muốn gạt bỏ đã biến mất, còn lại là cái vô định hình, không có bất kỳ đặc tính nào và không thể định nghĩa được. Eckhart gọi cái vô định hình đó là Thiên Chúa.

Cách khác là liên tục suy tư về cái chết. Trong Tarot là lá “Death” XIII. Một thí dụ là Valmiki, tác giả anh hùng ca Ramayana, nói về con người và hành động của Rama, hiện thân của Thiên Chúa của Ấn độ giáo, mà người Ấn tụng hàng ngày.

Đầu đời Valmiki là một tướng cướp. Một hôm Naropa không may đi qua lãnh thổ của nó. Nó bắt Naropa nộp tất cả những gì ông có trong người, không thì nó giết. Naropa nói, tôi không có gì giá trị hết, ngoài cái ông muốn cũng không lấy được. Valmiki nói, giá trị hay không giá trị, cứ đưa hết ra, không thì ta giết.

Naropa nói, cướp của, giết người là tội nặng lắm, chết sẽ xuống địa ngục, anh có biết không. Cha mẹ, vợ con anh có chịu xuống địa ngục với anh không?

Có chứ, Valmiki nói, tôi cướp của, giết người để nuôi họ, chắc chắn họ sẽ chịu tội chung với tôi.

Naropa nói, sao anh không về hỏi xem họ có chịu tội chung với anh không?

Valmiki nói, tính kế thoát thân sao?

Naropa nói, hãy trói tôi vào gốc cây kia rồi về hỏi họ đi.

Valmiki trói Naropa lại rồi về hỏi cha mẹ, vợ con. Không ai muốn chịu tội chung với hắn. Là con, là chồng, và là cha, bổn phận của anh là bằng mọi cách kiếm tiền nuôi họ, kể cả cướp của, giết người, sao họ phải chịu tội chung với anh?

Buồn bã, Valmiki trở lại cởi trói cho Naropa rồi hỏi cách nào để chuộc lại tội lỗi cũ.

Naropa nói, anh chỉ cần liên tục niệm “Rama… Rama…” là đủ.

Valmiki niệm “Rama… Rama…” không ngừng; “Rama… Rama…” trở thành “Mara… Mara…”

Rama là tên của Thiên Chúa. Còn Mara là tên của thần chết. Valmiki liên tục nghĩ về cái chết. Tâm trí không còn gì thú vị nên bỏ cuộc; hai não thành một.

Valmiki liên tục nghĩ về cái chết, quên ăn, bỏ ngủ, quên cả chính mình, thời gian, không gian mất hẳn ý nghĩa. Suy tư và cảm xúc cũng biến mất theo. Cái trước đây bị suy tư và cảm xúc che lấp tự lộ ra. Tâm trí không nội dung đã xuất hiện với Valmiki.

Phương pháp khác để đạt đến tâm trí không nội dung là hành động quyết liệt, đến lúc con người hành động biến mất, còn lại chỉ là hành động. Đó là triết lý hành động (The Yoga of Karma) của anh hùng ca The Bhagavat Gita – hành động quyết liệt nhưng không quan tâm đến kết quả. Trong Tarot là lá The Chariot VII.

Nghệ thuật bắn cung của Zen là một thí dụ khác. Trong nghệ thuật bắn cung của Zen, đích phải bắn không phải đích bên ngoài, mà là chính người bắn cung.

Eugen Herrigel, giáo sư Triết tại đại học Tokyo, tác giả cuốn sách kinh điển “Zen in the Art of Archery” (Zen trong nghệ thuật bắn cung). Trước khi đến Tokyo, Herrigel đã nghe nhiều của Zen, và từng gặp D.T Suzuki, người mang Zen đến tây phương. Trong lúc rảnh rỗi ở Tokyo, Herrigel muốn học Zen nên nhờ các thân hữu giới thiệu người có thể dạy ông về Zen. Họ nói Zen không thể trực tiếp học, mà phải qua những phương tiện gián tiếp, và họ khuyên ông học bắn cung, còn vợ ông học cắm hoa.

Herrigel học bắn cung với Kenzo Awa. Sau một thời gian dài tập bắn, Herrigel bắt đầu chán nản. Còn Awa nhắm mắt, đứng đâu cũng bắn trúng đích. Cuối cùng Herrigel nói với Awa, vì ông nhắm đích mỗi ngay qua nhiều năm, ông biết rõ hồng tâm nằm đâu nên cách nào ông cũng bắn trúng. Awa nói, nửa đêm nay anh đến gặp tôi ở đây.

Đêm ấy Herrigel đến gặp Awa. Awa bảo Herrigel đốt một cây nhang cầu nguyện. Sau đó Awa bịt mắt rồi ra hiệu cho Herrigel tắt đèn. Awa bắn hai phát thẳng vào hồng tâm. Awa bảo Herrigel bật đèn rồi tháo khăn bịt mặt ra. Mũ tên thứ nhất trúng ngay giữa hồng tâm, còn mũi thứ hai chẻ đôi mũi thứ nhất. Awa nói với Herrigel, anh có thể nói tôi biết hồng tâm nằm đâu nên đứng đâu tôi vẫn có thể bắn trúng. Nhưng tôi không biết mũi thứ nhất nằm đâu nên không thể nhắm. Thật ra, Awa nói với Herrigel, không phải tôi bắn, mà “NÓ” bắn.

“NÓ” là bản thể của ta, là cái bất sinh, bất diệt. Zen gọi “NÓ” là bổn lai diện mục của ta, nhưng ta không nhận ra vì bị lý tính và trực giác che lấp.

“Anh chính là NÓ!” đó là thông điệp của Áo nghĩa thư, That twam asi!

Thế thì lý tính, hay triết học và khoa học; cùng với trực giác, hay thi ca, nghệ thuật là đôi cánh để ta dọc, ngang trong đời. Lý tính làm cho đời đẹp, cho cuộc sống ta sung túc để có thể tìm những đam mê cao hơn. Còn trực giác, hay não phải, làm cho đời đáng sống và đầy ý nghĩa. Đôi cánh đó giúp ta thật sự thoả mãn, đến ê chề, chán chê. Sau đó ta bắt đầu hành trình tìm lại bổn lai diện mục của mình cũng chưa mượn. Vậy thì đam mê triết học và khoa học mà bỏ bê thi ca, nghệ thuật, hay ngược lại, sẽ biến ta thành những “người một chiều.”



Tags:

error: Không thể copy! (Content protected!)