NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA VĂN MINH TRUNG QUỐC

Triết Học Vạn Xuân
NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA VĂN MINH TRUNG QUỐC

Trích trong Chu Dịch Vạn Xuân, 2018, chương 1.2.


DẪN NHẬP

Miền Nam Việt Nam trước 1975 nổi lên một giả thuyết nói rằng văn hoá TQ là văn hoá của Việt tộc, nhưng sau khi chiếm được Trung hoa lục địa, Hán tộc chiếm luôn văn hoá của Việt tộc. Bài viết này dùng một số tài liệu của các học giả Pháp và Đức viết về văn minh TQ, chẳng hạn chữ viết, thần thoại… chứng minh nó có gốc từ Lưỡng Hà (Iraq ngày nay). Ngoài những tài liệu đó, bài viết này dựa phần lớn vào cấu trúc của Kinh Dịch, Can, Chi, Ngũ hành, Tử Vi, khảo cổ… để quả quyết Nguồn gốc Ai Cập của văn minh TQ.

Một sự kiện rất hiển nhiên nhưng không thấy học giả Á Đông đề cập đến. Đó là TQ có nhiều giống dân khác nhau, nhưng chỉ có chung một chữ viết. Một học giả nói rằng trước khi Hán tộc chiếm được lục đia, Việt tộc dùng chữ “Chân chim,” nhưng sau khi nhà Tần diệt lục quốc, thừa tướng Lý Tư bắt cả nước dùng chữ Lệ còn dùng đến nay, và cấm dùng chữ Chân chim. Sự thật là cho đến nay chưa hề có bằng chứng hay dấu vết của chữ “Chân chim,” nghĩa là chỉ có một loại chữ được du nhập từ Trung Đông. Điều đó giải thích nhiều sự kiện lịch sử liên quan đến TQ:

Vì văn minh Trung đông du nhập vào vung Tây Bắc, TQ, những nơi còn lại của TQ chẳng có văn minh. Nó giải thích vì sao Hán tộc bắt đầu từ khu Tây Bắc tràn xuống Đông nam dễ dàng vì những nơi đó ánh sáng văn minh chưa đến. Nó cũng giải thích vì sao TQ chỉ có một loại chữ viết, so với Ấn Độ có nhiều sắc dân và có nhiều chữ viết khác nhau. Nó cũng giải thích một sự thật là TQ rất thông minh nhưng thiếu sáng tạo. Thật vậy, TQ thiếu sáng tạo đến nỗi nó không thể cải tiến chữ viết đã có hơn 3000 năm lịch sử; và không những thế, nó không thể thiết lập được một tôn giáo bản địa mà phải du nhập Phật giáo từ Ấn Độ, và nay là Kitô giáo và chủ nghĩa Cộng sản từ Tây phương.

Vì nghèo nàn trong sáng tạo, TQ có thể công nghệ hóa một văn minh nông nghiệp chỉ trong hơn 30 năm, nhưng TQ không có một khám phá đáng kể nào. Tuy nhiên, mặc dù người TQ, cũng như Hàn, Nhật thiếu sáng tạo nguyên thủy, khả năng nổi bật của họ là cải tiến. Trong khi trí thức Âu, Mỹ chỉ thích khám phá những chân lý nguyên thủy; ngược lại, vì tâm lý thực dụng, Á Đông thích cải tiến những khám phá nguyên thủy đó và áp dụng cho kinh tế thị trường. Khả năng đặc biệt này đã giúp biến TQ từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghệ chỉ trong vòng hơn 30 năm, và hiện nay nó đang đe dọa địa vị siêu cường của Âu, Mỹ. Trước đó khoảng hơn 10 năm, Mỹ đã phải chật vật đối đầu với kinh tế Nhật; nhưng so với TQ, kinh tế Nhật quá nhỏ nên bị Mỹ ép phải lên giá đồng Yen với những thỏa thuận bất lợi trong hiệp ước Plaza (Plaza Accord), làm cho nhiều doanh nghiệp phá sản. Từ đó đến nay Nhật ngóc đầu không nổi. Trong khi đó kinh tế Mỹ cũng không khá hơn, và phải chờ đến khi phần mềm Windows của Microsoft và mạng lưới toàn cầu, và đặc biệt với iPhone của Apple xuất hiện, Mỹ mới có thể lấy lại thế chủ động.

Hiện Mỹ đang dùng chiêu trò “bổn cũ xào lại,” qua cái gọi là thuế quan (tariff) để bắt thế giới trả món nợ khổng lồ với hơn 38 ngàn tỷ của Mỹ. Có lẽ TQ đã học được bài học của Nhật nên đã chuẩn bị trước qua việc liên kết với khối Toàn cầu Nam, đặc biệt các quốc gia trong khối BRICS. Thế thì trừ khi Mỹ có những khám phá động đất mới như iPhone, địa vị siêu cường của Mỹ khó mà giữ được và phải nhường cho TQ.


BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA TQ TRƯỚC CHIẾN THẮNG 1949

Trong những năm đầu của thế kỷ 20, thế lực của nhà Thanh đã suy yếu rất nhiều vì sức mạnh cơ khí của tây phương đã dễ dàng đè bẹp Trung Quốc. Người Hoa cảm thấy bị sỉ nhục ngay trong quê hương của mình. Sau chiến tranh nha phiến thứ nhất, 1839-1842, nhà Thanh đã phải ký hòa ước Nam Kinh 1842 và phải nhường Hồng Kông cho Anh, cùng với các hải cảng Thượng Hải, Quảng Châu, Ninh Ba, Phúc Châu, và Hạ Môn. Đến 1843 và 1844, nhà Thanh lại phải chấp nhận những điều kiện tương tự với Pháp. Trong chiến tranh nha phiến lần thứ hai, 1856-1860, nhà Thanh buộc phải cho phép nha phiến được mua bán tự do và nhiều đặc quyền khác phải nhường cho Anh và Pháp. Nhiều nơi trở thành tô giới của các thế lực tây phương và Nhật. Có những nơi chó và người Hoa không được phép vào. Tình trạng này đã gây ra khủng hoảng tâm lý cho người Hoa, cả cá nhân lẫn xã hội. Sự kiện này buộc trí thức người Hoa đi tìm lại hồn dân tộc mà từ nhiều ngàn năm qua đã cho họ một cảm giác rất tự hào là trung tâm của thế giới, là đỉnh cao của trí tuệ. Tuy nhiên, những cái học cổ xưa của TQ không thể giải quyết được những thách đố do sức mạnh cơ khí của tây phương.

Giữa lúc tuyệt vọng tuyệt đối đó bỗng dưng xuất hiện cuốn The Western Origin of the Early Chinese Civilization from 2300 B.C. to 200 A.D. (Nguồn gốc tây phương của văn minh Trung Quốc từ 2300 TCN đến 200 SCN), của nhà ngữ văn người Pháp, Albert Terrien de Lacouperie, xuất bản năm 1892, và được dịch sang Trung văn năm 1903. Tác phẩm này đã cho người Hoa một hy vọng. Nếu tổ tiên người Hoa đã có thể sáng tạo những nền văn minh đầu tiên của nhân loại, không có lý do gì con cháu của họ không thể đuổi kịp các quốc gia Âu, Mỹ. Lacouperie so sánh các quẻ Dịch cùng với chữ viết của Trung Quốc với hình nêm (cunieform) của Mesopotamia mà đưa ra giả thuyết văn minh Trung Quốc có gốc từ Babylon. Lacouperie cũng cho rằng Hoàng Đế, người mà người Hoa coi là tổ tiên của mình thuộc dòng dõi Viêm đế, cũng được gọi là Thần Nông, chính là vua Nakhunte, người đã lãnh đạo dân của ông đến định cư tại đồng bằng Hoàng Hà khoảng 2300 TCN [1,2].

Giả thuyết về nguồn gốc Babylon của Lacouperie đã được Lưu Sư Bồi (劉師培= Liu Shipei) ủng hộ; ông là giáo sư Sử học, đại học Bắc Kinh. Năm 1903 Lưu xuất bản cuốn History of the Chinese Nation (Lịch sử Đất nước TQ). Đến 1915, học thuyết này được phổ biến rộng rãi đến nỗi quốc ca của nước cộng hoà được đích thân tổng thống Viên Thế Khải yêu cầu sáng tác, và gọi Trung Quốc là “hậu duệ danh tiếng từ đỉnh Côn Lôn,” mà huyền sử của Trung Quốc nằm ở phương Tây xa xôi. Tôn Dật Tiên, người sáng lập nước Cộng Hoà TQ, cũng ủng hộ giả thuyết ấy. Trong Tam Dân Chủ Nghĩa, Tôn Văn viết, “Phát triển của văn minh TQ có thể… được giải thích là do những di dân đến từ một nền văn minh rất cao” [1].

Quan điểm nguồn gốc tây phương của Trung Quốc đi vào quên lãng trong những năm cuối 1920 và đầu 1930, khi Nhật bắt đầu xâm lăng Trung Quốc. Các nhà sử học người Hoa bắt đầu xét lại giả thuyết về nguồn gốc phương Tây và những người ủng hộ trước đây. Cùng thời gian đó, việc khám phá đồ gốm thời đồ đá mới ở Long Sơn, Sơn Đông năm 1928 đã chứng tỏ phía đông Trung Quốc đã từng có các người bản xứ cư ngụ, trước cuộc di cư thời đồ đồng mà Lacouperie đã đề nghị. Cùng năm đó, cuộc khai quật thành phố Ân Khư bắt đầu. Những đồ văn hóa cao của hai triều đại Ân-Thương – như xương bói toán, chữ viết của họ mà Trung Quốc đang sử dụng ngày nay với ít nhiều thay đổi –thường được coi là “gốc rễ của văn minh Trung Quốc” – nằm tại An Dương, Hà Nam ngày nay [1].

Những khám phá này dẫn đến thuyết hai nguồn gốc của nền văn minh TQ, đề xuất rằng văn hoá thời đồ đá mới (Neolithic) của đông phương lan sang phương Tây đã tiếp xúc với văn hóa đồ đá từ phương tây lan sang phía Đông, và hai văn hoá này kết hợp mà trở thành tổ tiên của nhà Thương. Giả thuyết này kéo dài đến 1949 thì bị thất sủng vì chiến thắng của Mao Trạch Đông. Mao buộc mọi giải thích khảo cổ phải chứng minh văn minh Trung Quốc là phát triển của bản địa, không phải từ bên ngoài, đồng thời giới trí thức phải có niềm tin rằng văn minh TQ đã phát triển theo các luật lịch sử Mác-xít “khách quan”, từ một tộc nguyên thủy trở thành xã hội chủ nghĩa [1].


DỰ ÁN NIÊN ĐẠI HẠ-THƯƠNG-CHU HẠ-THƯƠNG-CHU

Quan điểm quá khích, bất chấp nguyên tắc khoa học của Mao đến 1979 bắt đầu thay đổi với cải cách của Đặng Tiểu Bình. Những nỗ lực truy tầm nguồn gốc của Trung Quốc lại bắt đầu. Nổi tiếng nhất là dự án xác định niên đại Hạ-Thương-Chu. Đó là một dự án đa ngành, kết hợp giữa các bộ môn khoa học tự nhiên với khoa học xã hội, được chính quyền giao cho một nhóm chuyên gia trong nhiều lĩnh vực tiến hành từ ngày 16/5/1996 để xác định chính xác địa điểm và niên đại của các triều đại Hạ, Thương và Tây Chu [3]. Dự án này lấy cảm hứng từ những thành tựu của khảo cổ học Ai Cập. Khi bộ trưởng khoa học kỹ thuật Tống Kiện đến thăm Ai Cập năm 1995, ông đã có nhiều ấn tượng về phả hệ của các vua Ai Cập (pharaohs) ngược thời gian đến thiên niên kỷ thứ ba TCN. Điều này thúc đẩy ông vận động cho một dự án – bao gồm kế hoạch 5 năm lần thứ chín của chính phủ – để xác định rõ niên đại của các triều đại của TQ. Với ngân sách khoảng 1,5 triệu USD trong năm năm, dự án nhân văn này được xem là lớn nhất do nhà nước tài trợ kể từ dự án Sử Ký Toàn Thư năm 1773 của vua Càn Long. Bộ bách khoa này lớn hơn 20 lần bộ bách khoa toàn thư của Anh [1]. Dự án này có khoảng 200 chuyên gia từ 7 đơn vị – Bộ Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc, Bộ Giáo dục Trung Quốc, Cục Bảo tàng lịch sử quốc gia Trung Quốc, Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc, Hiệp hội cơ kim khoa học tự nhiên quốc gia Trung Quốc. Giám đốc công trình này là sử gia Lý Học Cần, chuyên gia về C-14 Cừu Sĩ Hoa, nhà khảo cổ Lý Bá Khiêm, nhà thiên văn Tịch Trạch Tông. Dự án được kết thúc ngày 15/9/2000 và các kết quả của dự án đã được công bố ngày 9/11/2000 với tên gọi Hạ Thương Chu niên biểu [3].

Dự án so sánh các kết quả thu được từ xác định niên đại bằng carbon phóng xạ, các phương pháp xác định niên đại của khảo cổ học từ các di chỉ khảo cổ học, cũng như từ các mộ táng, phân tích các văn bản lịch sử trên giáp cốt văn và kim văn, các kết quả thiên văn, lịch pháp và sử dụng các phương pháp liên ngành khác để thu được độ chính xác về thời gian và địa điểm chính xác và đúng đắn hơn [3]. Dự án này đã gây ra một số tranh cãi về các kết quả. Một số phê phán dự án này phục vụ mục đích chính trị nên bị hoài nghi về đạo đức. Một số khác phê bình quan niệm về một lịch sử 5.000 năm không gián đoạn và đồng nhất của Trung Quốc, trong đó ba triều đại Hạ, Thương, Chu là triều đại lớn và hùng mạnh và đã bỏ qua một thực tế là có thể có nhiều nhóm người khác (có lẽ cũng văn minh ngang như thế) đã tồn tại khắp Trung Quốc và Trung Á trong thời kỳ này [3, 4]. Các tranh cãi kỹ thuật liên quan tới các vấn đề sau [3]:

  1. Các ranh giới khảo cổ học giữa nhà Hạ với nhà Thương và giữa nhà Thương với nhà Chu đã bị tranh cãi, một phần là do các phương pháp được chấp nhận trong xác định niên đại bằng carbon phóng xạ.
  2. Các niên đại theo carbon phóng xạ nói chung chỉ có thể đưa ra độ tin cậy ở mức 68%, thay vì ngưỡng tiêu chuẩn độ tin cậy 95%; điều này làm cho các khoảng ngày tháng hẹp hơn so với ngưỡng mà chúng lẽ ra phải có một cách chính xác hơn [6].
  3. Tính toán thiên văn chủ yếu (cho nhật thực năm 899 TCN) là không chính xác [7, 8].
  4. Nhiều người cho rằng các cơ sở tài liệu thiên văn của dự án là thiếu cơ sở. Điều này một phần do các nghi ngờ từ lâu về độ tin cậy và các diễn giải của các ghi chép lịch sử sử dụng trong các suy luận [7, 8].Mặt khác, điều này cũng một phần do việc sử dụng có tính chọn lọc các ghi chép sử học giả định (mà nếu sử dụng ở trạng thái nguyên vẹn của nó, có thể hoàn toàn không có giải đáp).
  5. Các thay đổi giả định đã được đưa vào trong các chữ khắc trên các chai, lọ bằng đồng thanh; điều này ảnh hưởng tới độ tin cậy của niên đại tổng thể.
  6. Thiếu hiểu biết về lịch pháp cổ đại đã làm rắc rối và phức tạp vấn đề [7].

Sau nhiều năm làm việc, các khoảng thời gian của ba triều đại Hạ, Thương, Chu đã được công bố như sau [3].

  • Nhà Hạ: 17 vua (2070 TCN – 1600 TCN)
  • Tiền Thương: 19 vua (1600 TCN – 1300 TCN)
  • Hậu Thương:
    • Bàn Canh, Tiểu Tân, Tiểu Ất (1300 TCN – 1251 TCN)
    • Vũ Đinh (1250 TCN – 1192 TCN)
    • Tổ Canh, Tổ Giáp, Lẫm Tân, Canh Đinh (1191 TCN – 1148 TCN)
    • Vũ Ất (1147 TCN – 1113 TCN)
    • Thái Đinh (1112 TCN – 1102 TCN)
    • Đế Ất (1101 TCN – 1076 TCN)
    • Đế Tân (1075 TCN – 1046 TCN)
  • Tây Chu:
    • Vũ Vương (1046 TCN – 1043 TCN)
    • Thành Vương (1042 TCN – 1021 TCN)
    • Khang Vương (1020 TCN – 996 TCN)
    • Chiêu Vương (995 TCN – 977 TCN)
    • Mục Vương (976 TCN – 922 TCN)
    • Cung Vương (922 TCN – 900 TCN)
    • Ý Vương (899 TCN – 892 TCN)
    • Hiếu Vương (891 TCN – 886 TCN)
    • Di Vương (885 TCN – 878 TCN)
    • Lệ Vương (877 TCN – 841 TCN)
    • Chu Triệu cộng hòa (841 TCN – 828 TCN)
    • Tuyên Vương (827 TCN – 782 TCN)
    • U Vương (781 TCN – 771 TCN)

BIÊN NIÊN SỬ NHÀ HẠ VÀ NGUỒN GỐC AI CẬP CỦA TRUNG QUỐC

Ngoài những thành quả nói trên, một kết quả bất ngờ do phương pháp khoa học của dự án đó là giả thuyết nguồn gốc Ai Cập của Trung Quốc do Tôn Vệ Đông (Sun Weidong) đề xuất năm 2016. Vệ Đông là một giáo sư địa-hóa học (geochemistry) tại đại học Hợp Phì (Hefei), tỉnh An Huy. Tháng 3, 2016, trong một buổi thuyết trình, ông đặt câu hỏi, “Trên thế giới chỉ có một con sông chảy từ Nam ra Bắc, đó là sông gì?” Một số khán giả trả lời, “Sông Nile.” Vệ Đông mở bản đồ sông Nile với 9 nhánh đổ ra Địa Trung Hải. Tất cả khán giả đều đồng ý Biên Niên Sử Nhà Hạ mô tả địa hình Ai Cập hơn là Trung Quốc [1].Biên Niên Sử của nhà Hạ có câu, “Con sông chín nhánh: Nhược Thủy chảy vào Hạc Ly, các con sông còn lại chảy vào Lưu Sa. Hắc Thủy chảy vào Tam Vĩ rồi đổ ra Biển Đông”[9]. Năm 2015, Vệ Đông đã gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi trong cộng đồng mạng với giả thuyết về những người khai sáng văn minh Trung Quốc là những di dân từ Ai Cập, không phải người Hoa [1].

Nhưng không phải riêng người Hoa, nhiều trí thức người Việt cũng không chấp nhận giả thuyết của Tôn Vệ Đông. Một học giả tôi biết rất thông thạo Hán văn và rất uyên bác đã đưa ra 8 lý do để bác bỏ câu nói đó trong Biên Sử nhà Hạ:

  1. Không giải thích Ai cập và Trung Quốc giao lưu như thế nào, trong khoảng thời gian nào;
  2. Không có bằng chứng nào khác về tiếp xúc này;
  3. Nhà Hạ chỉ là truyền thuyết chứ chưa có chứng cứ khảo cổ nào về nhà Hạ cả;
  4. Đoạn văn đó nghi là đời Tiền Hán;
  5. Chưa rõ đoạn văn đó miêu tả địa vực nào ở Trung Quốc.
  6. Cốt lõi của văn minh Trung Quốc là chữ tượng hình khối vuông, rõ ràng là một phát triển bản địa không chịu một ảnh hưởng ngoai lai nào;
  7. Gần đây học giả Trung Quốc tạm thống nhất là trong thiên niên kỷ thứ 5 đến 3 TCN trên lãnh vực TQ hiện nay có 9 nền văn minh tự sinh phát triển gần như song song với nhau, với đặc điểm chung là sư quan trọng khác thường của các đồ tế khí bằng ngọc;
  8. Mới nhất là giả thuyết của nhiều nhà khảo cổ và sử gia Trung Quốc về sự hiện diện của một Long Phụng Khuyên (dragon-phoenix rim) kéo dài tử bờ biển Siberia, qua TQ, xuống VN, vắt qua Indonesia đi qua các đảo Polynesia, sang Nam Mỹ, lên Bắc Mỹ và kết thúc ở eo biển Berring.

Tám lý do này vô cùng quan trọng vì có nhiều thông tin tôi chưa bao giờ nghe đến. Một nhận xét từ lâu của tôi, không hiểu vì lý do gì một số trí thức người Việt, khi nghe ý kiến không thuận lợi về TQ, họ cảm thấy bị tổn thương, như thể chính mình bị tấn công. Vì thế 8 lý do này cần phải được nghiên cứu.

  1. Ai cập và Trung Quốc giao lưu như thế nào. Hyksos là nhóm đến Ai Cập khoảng 1650 TCN và cai trị Nam Ai Cập. Sau 30 năm chiến tranh (1539 TCN–1514 TCN), họ bị Ahmose I, vua nước Thebe, đánh bại. Một số chạy về Palestine. Một số dùng tầu chạy về phía đông TQ như giả thuyết của Vệ Đông. Điều này giải thích sự trùng hợp lịch sử của nhà Thương với nhóm Hyksos [19, 20]. Trước 1600 TCN, TQ chưa có lịch sử. Đến khi nhóm này đến TQ và mang theo những đồ gốm tìm được ở Long Sơn, Ân Khư cùng với những đồ đồng mà Vệ Đông phát hiện có nhiều điểm y hệt các đồ đồng ở Trung Đông;
  2. Bằng chứng về sự tiếp xúc của nhóm Hyksos với Trung Quốc. Ngoài những đồ gốm và đồ đồng, hiện nay ở phía đông TQ có hơn 400 xác ướp của những người tây phương. Điều này sẽ được bàn thêm trong phần 4;
  3. Bằng chứng khảo cổ về nhà Hạ. Bằng chứng khảo cổ sẽ được trình bày trong phần 3;
  4. Biên Niên Sử thuộc đời Tiền Hán. Nói rằng đoạn văn đó thuộc đời Tiền Hán là một điều hoàn toàn vô lý. Nếu là của đời Tiền Hán, sao lại tả về một dòng sông chảy từ nam ra bắc. Theo quan điểm của tôi, Biên Niên Sử Nhà Hạ là biên niên sử của Hyksos, nhưng đã bị TQ thay đổi để trở thành Biên Niên Sử Nhà Hạ. Giả dối là sở trường của Trung Quốc. Xuân Thu Chiến Quốc nói về một họa sĩ làm được một chiếc lá giả mà khi bỏ chung với lá thật, không ai nhận ra. Những chuyện lấy thịt người làm nhân bánh bao hầu như thời nào chúng có, chẳng hạn trong cuốn Tửu Quốc của Mặc Ngôn. Gần đây tin tức nói Trung Quốc làm gạo giả, làm trứng muối giả [10], dùng hóa chất biến thịt thối thành thịt tươi, biến trái cây xanh thành chín. Năm 2012 Hàn Quốc phát hiện thuốc bổ của Trung Quốc làm bằng thịt người [11]. Ngụy thư thì vô số. Nam Hoa Kinh có rất nhiều thiên do người sau làm rồi bỏ vào. Những kinh Phật như Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận, Viên Giác… đều là những sản phẩm của Trung Quốc vì không có trong Phạn ngữ, hoặc Tạng ngữ. Nổi tiếng nhất là truyền thống Thiền với 28 tổ Thiền Ấn Độ, 6 tổ Thiền TQ, và cuộc so tài giữa Huệ Năng và Thần Tú để được ngũ tổ Hoàng Nhẫn truyền y bát cũng do phù phép của Thần Tú mà có [12, 13]. Ngay cả Khổng Tử cũng là một nhân vật tưởng tượng, không có thật [2]. Theo Joseph Campbell, một chuyên gia nổi tiếng về huyền sử, cái được truyền đến ngày nay là Nho giáo, không phải Khổng Tử [34]. Thế thì Biên Niên Sử Nhà Hạ có thể là một ngụy thư đời Tiền Hán. Nhưng sao lại có câu, “Cửu giang: Nhược Thủy chảy vào Hạc Ly…” Một trong nhiều giải thích hợp lý là trước khi nhà Thương xuất hiện, Trung Quốc vẫn còn là một vùng hoang vu, man rợ. Thế rồi trong thời gian đó nhóm Hyksos bị trục xuất khỏi Ai Cập đã đến định cư và mang văn minh đến Trung Quốc, như giả thuyết của Lacouperie. Điều đó giải thích được hai yếu tố tối quan trọng. Một, khi dấu vết chữ viết xuất hiện lần đầu tiên trong triều nhà Thương, nó đã là một hệ thống hoàn chỉnh mà không qua một thời gian dài phát triển như các chữ viết khác. Điều này sẽ được bàn thêm trong phần 3. Hai, Biên Niên Sử Nhà Hạ của nhóm Hyksos đã bị “Hán hóa” theo cách Trung Quốc vẫn làm xưa nay;
  5. Ai Cập hay Trung Quốc. Chưa rõ đoạn văn đó miêu tả địa vưc nào ỏ Trung Quốc. Ngoài Ai Cập, không có sông nào chảy từ nam ra bắc. Chỉ có một giải thích hợp lý nhất là TQ đã ăn vụng nhưng không kịp chùi mép;
  6. Chữ viết của Trung Quốc. Cốt lõi của văn minh Trung Quốc là chữ tượng hình khối vuông. Chữ viết của TQ sẽ được bàn trong phần 4;
  7. Chín nền văn minh. Chín nền văn minh tự sinh phát triển gần như song song với nhau. Quan điểm này không xét các đồ gốm ở Long Sơn và Ân Khư, cũng như các đồ đồng mà Vệ Đông phát hiện. Ngoài những bằng chứng khảo cổ, còn những yếu tố văn hoá rất trùng hợp với Babylon như Kinh Dịch (xem https://zen-osho.com/nguon-goc-ai-cap-cua-kinh-dich/), khảo cổ, chữ viết, thần thoại, âm lịch, chu kỳ 60 năm, và 12 con giáp (xem https://zen-osho.com/phan-khoa-hoc-am-duong-ngu-hanh-can-chi-tu-vi/);
  8. Long Phụng Khuyên. Giả thuyết này không có cơ sở vì khảo cổ của Trung Quốc không được học giả thế giới coi là nghiêm túc. Thí dụ, khi tuyên bố đường lưỡi bò trên biển Nam Hải đều thuộc Trung Quốc, họ đã dùng khảo cổ để chứng minh chủ quyền lịch sử của Trung Quốc, nhưng học giả thế giới không chấp nhận. Thành thật mà nói, tôi chưa hề nghe về Long Phụng Khuyên, và tôi đã lên mạng để tìm nhưng không thấy gì cả. Theo tôi, giả thuyết đó che dấu một điều vô cùng xấu xa là Trung Quốc luôn luôn có tham vọng lãnh thổ. Vì tham vọng đó, từ mấy ngàn năm qua các láng giềng của Trung Quốc chẳng mấy khi được sống trong an bình. Troy Parfitt, trong hơn 10 năm là giáo sư Anh ngữ tại Đài Loan, đã đi và quan sát khắp nơi cả Đài Loan lẫn Trung Quốc. Nhận xét của ông là tham vọng lãnh thổ của người Hoa luôn luôn nóng bỏng. Tuy là một đảo nhỏ, Đài Loan đã tuyên bố gần 30% Á châu thuộc về Đài Loan [15, 16]. Láo lếu hơn cả Đài Loan, với đường lưỡi bò, Trung Quốc tuyên bố hơn 90% biển Nam Hải thuộc về Trung Quốc. Cho nên khó mà sống yên với người Hoa [17]. Dù sao đi nữa, tôi nghĩ Trung Quốc không có khả năng sáng tạo để thực hiện những công trình vĩ đại như thế. Trước hết là, như lời của Hegel, Trung Quốc không có khả năng triết lý. Và trong 9 nền văn minh của nhân loại, chỉ có Trung Quốc là phải vay mượn khắp nơi. Tôn giáo thì mượn Phật Giáo của Ấn Độ. Tư tưởng phải mượn chủ nghĩa Cộng Sản từ tây phương. Kế tiếp là chữ viết. Từ hơn 3000 năm qua cả thế giới đã dùng chữ có mẫu tự, nhưng vì Trung Quốc không có khả năng sáng tạo nên vẫn phải dùng chữ viết đã có từ triều đại nhà Thương. Và chữ viết đó đã làm TQ nghèo nàn trong sáng tạo.^21 Cuối cùng là Kinh Dịch. Những mâu thuẫn có rất nhiều trong những giải thích mà đã hơn 3000 vẫn chưa nhận ra (https://zen-osho.com/nguon-goc-ai-cap-cua-kinh-dich/).

BẰNG CHỨNG KHẢO CỔ CỦA VĂN MINH TRUNG QUỐC

Bằng chứng khảo cổ về nguồn gốc tây phương của Trung Quốc có thể kể đến đồ gốm, đồ đồng và xác ướp người Âu tại Tân Cương. Đồ đồng đã được trình bày bên trên. Phần này chỉ trình bày về đồ đồng và xác ướp.

ĐỒ ĐỒNG CỦA AI CẬP TẠI TRUNG QUỐC

Trở lại với Tôn Vệ Đông, giả thuyết về nguồn gốc Ai Cập của Trung Quốc đến với ông trong những năm 1990 khi dùng carbon phóng xạ để định tuổi của đồ đồng cổ đại mà dự án Hạ-Thương-Chu đã áp dụng. Điều mà Vệ Đông khám phá là hợp chất của chúng giống đồ đồng cổ đại của Ai Cập hơn là quặng của Trung Quốc. Trước đây quan điểm của các học giả là kỹ thuật đồ đồng đến với Trung Quốc từ phía tây bắc, theo đường tơ lụa, nhưng theo Vệ Đông, nó đến Trung Quốc qua đường biển, theo nhóm Hyksos. Nhóm này cai trị Ai Cập từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 16 TCN thì bị trục xuất. Kiến thức của họ về kỹ thuật luyện đồng, chiến xa, văn chương, trồng cấy và chăn nuôi cũng là những cái các nhà khảo cổ tìm được tại Ân Khư, thủ đô của nhà Thương (1300-1046 TCN). Vì biết cách xây tầu chiến, một số nhỏ dùng kỹ thuật đi biển mà đến Trung Quốc và đem theo những đồ đồng cổ đại đó. Ý tưởng táo bạo của Vệ Đông đã gây tranh luận vì người Hoa đều nghĩ họ là hậu duệ của Viêm đế (Thần nông) và Hoàng Đế. Theo sử gia Tư Mã Thiên, hai nhân vật huyền sử này là tổ tiên người Hán, và chút, chít của Hoàng Đế là Đại Vũ cũng là người khai sáng nhà Hạ [1].

Vì biết khám phá của Vệ Đông sẽ gây ra nhiều tranh cãi nghiêm trọng, giáo sư cố vấn đã không cho phép ông báo cáo vào thời điểm đó và đã yêu cầu ông chuyển dữ liệu sang một dự án khác. Sau này là một giáo sư, Vệ Đông đã sẵn sàng để nói tất cả những gì ông biết về nền văn hoá thời đại đồ cổ của Ân-Thương và Trung Quốc. Ngày nay với mạng lưới toàn cầu, công chúng có thể đón nhận giả thuyết của Vệ Đông với một tâm trí cởi mở. Rất có khả năng là mặc dù ký ức về nguồn gốc Ai Cập đã quá mờ nhạt trong tâm trí người Hoa, nhưng trong vô thức tập thể (collective unconsciousness) của họ, ký ức đó không bao giờ mất. Có thể đó là lý do khi đến thăm Ai Cập trong tháng 1, 2016, chủ tịch Tập Cận Bình đã dùng câu tục ngữ Ai Cập mà chào tổng thống Abdel Fattah al-Sisi của Ai Cập, “Nếu đã uống nước sông Nile, bạn sẽ phải trở lại” [18, 1]. Mặc dù ông Tập chưa hề uống nước sông Nile, hơn 3000 năm trước tổ tiên ông đã uống và nhờ sông Nile mà họ đã có thể sáng tạo một nền văn minh rực rỡ mà người đời nay vẫn còn hâm mộ. Tuy nhiên, giới hàn lâm vẫn còn nghi ngờ nguồn gốc Ai Cập đó. Kể từ những năm 1990, hầu hết các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã chấp nhận hầu hết các công nghệ thời đại đồ đồng của Trung Quốc đến từ bên ngoài. Nhưng nói chúng đến trực tiếp từ Trung Đông trong các cuộc di dân vĩ đại thì ngoài sức tưởng tượng của họ. Họ nghĩ chúng được truyền sang Trung Quốc từ Trung Á bằng một quá trình trao đổi văn hoá chậm, như buôn bán, triều cống, hồi môn, qua biên giới phía bắc, bởi các nhà chăn nuôi thảo nguyên ở Âu Á với các nhóm bản địa ở cả hai vùng [1]. Với những phát kiến của Tôn Vệ Đông, thuyết đó khó đứng vững.

XÁC ƯỚP NGƯỜI ÂU TẠI TRUNG QUỐC

Ngoài những đồ khảo cổ như đồ gốm, đồ đồng, còn có rất nhiều xác ướp tự nhiên ở TQ. Khi nói đến xác ướp, ai cũng nghĩ đến Ai Cập, nhưng có hai loại xác ướp: nhân tạo và tự nhiên. Xác ướp tự nhiên được tạo ra trong những vùng khô với nhiệt độ thấp, nơi mà lượng oxy thấp ngăn cản xác chết phân hủy. Những xác ướp tự nhiên được tạo ra này được gọi là xác ướp tự phát, và có thể được tìm thấy trên khắp thế giới, trên khắp lục địa. Ở châu Á, nhiều xác ướp tự nhiên được tìm thấy ở Trung Quốc, với những xác chết được bảo quản rất tốt từ nhiều ngàn năm qua. Điều này không có gì bất thường vì thời tiết phía tây Trung Quốc rất thích hợp cho xác ướp tự nhiên. Tuy nhiên, điều bất thường là hàng trăm xác ướp châu Âu đã chọn lưu vực Tarim trong sa mạc Taklamakan ở Tân Cương làm nơi an nghỉ cuối cùng. Đó là nơi mà trước đây chưa ai tin là đã có người Âu châu đặt chân đến. Một trong những xác ướp được biết đến nhiều hơn cả là một cá nhân gọi là Cherchen Man, được xác định là có gốc từ Celt, một giống dân sống ở bắc Âu. Theo các nhà cổ học, xác ông đã được bảo tồn khoảng 3000 năm, thuộc thời đồ đồng, và được tìm thấy cùng với ba phụ nữ và một em bé; tất cả đều nằm trong một trạng thái ướp xác vô cùng nguyên sơ, khác hẳn những xác ướp nhân tạo Ai Cập. Cũng trong khu chôn cất của Cherchen Man, còn có khoảng 200 người thuộc cùng một bộ tộc Châu Âu, với cấu trúc đá Celtic được bao bọc bởi những bức tượng đá đứng. Đây là một khám phá độc đáo và quan trọng về thời đồ đồng Celtic ở sa mạc Trung Quốc. Khoảng năm 300 TCN, người Celt định cư nhiều nhất ở Pháp và Anh, và chỉ lan rộng đến Thổ Nhĩ Kỳ. Không ngờ họ đến cả Trung Quốc [22].

Lại có nhiều xác ướp châu Âu ở lưu vực Tarim. Một xác ướp một phụ nữ, khoảng 45 tuổi, đã tồn tại 4.000 năm gần thị trấn Loulan (Lưu Lan), được gọi là người đẹp Lưu Lan. Thị trấn này còn rất nhiều xác ướp tương tự. Cũng có một xác ướp khoảng 2.000 TCN, cao khoảng 2 mét, với một mặt nạ chết được phủ trong lá vàng. Mặt nạ chết này là một truyền thống của Hy Lạp cổ đại và những chi tiết khác của người Hy Lạp, chẳng hạn ảnh chiến đấu với những người Hy Lạp thêu bằng vàng trên quần áo len đỏ. Tarim là nơi lý tưởng cho xác ướp do điều kiện cực kỳ khô và đất cặn ở đây. Nhìn chung, có khoảng 400 xác ướp châu Âu, tất cả đều ở các trạng thái bảo quản khác nhau và từ các khung thời gian khác nhau, được tìm thấy khắp lưu vực Tarim từ 1990. DNA của các xác ướp cho thấy họ thực sự là tổ tiên của người Âu. Đó là một bí ẩn. Lý do gì họ đã đến sa mạc xa xôi này? Sống tại đây bao lâu? Việc khám phá xác ướp châu Âu ở Trung Quốc có thể phải xét lại quan điểm về lịch sử châu Âu và Trung Quốc cổ đại. Nó cũng được coi là một trong những khám phá quan trọng nhất của thế kỷ. Hiện diện của họ ở Trung Quốc cũng chứng tỏ những người Âu sớm phân tán khắp các vùng đất khác nhau, và đã gây ra một số lượng lớn các cuộc tranh luận và giả thuyết [22].

Một trong những người đã nghiên cứu sâu rộng về xác ướp người Âu của Trung Quốc, là Victor Mair, giáo sư đại học Pennsylvania. Ông tin rằng người Âu đã phân tán ra nhiều hướng khác nhau, và một số đi về phía tây để trở thành Celts ở Anh và Ái Nhĩ Lan; nhóm khác đi về phía bắc và trở thành bộ tộc Đức; và nhóm khác đi về phía đông đến Tân Cương. Những người Âu cổ đại này đại diện một số cư dân đầu tiên ở lưu vực Tarim. Mair cũng tuyên bố từ khoảng năm 1800 TCN, các xác ướp sớm nhất được tìm thấy ở đây chỉ là Âu châu, không phải Trung Quốc [22].

Hiện diện của những xác ướp người Âu tại những vùng nghiệt ngã này, không có lý do gì những nhóm người Âu khác không đến định cư tại những vùng khí hậu ôn hòa hơn, đặc biệt là nhóm Hyksos từng sống tại những đồng bằng sông Nile, hoặc Lưỡng Hà (Euphrates và Tigris). Và vì nhóm Hyksos từng cai trị Ai Cập, khi đến TQ, họ đã mang theo di sản của văn hoá Lưỡng Hà đến vùng đất mới. Đó là giả thuyết nguồn gốc Ai Cập của Tôn Vệ Đông. Một giả thuyết khác về nguồn gốc tây phương của TQ của Terrien de Lacouperie. Nakhunte, người mà người Hoa gọi là Hoàng Đế, đã lãnh đạo bộ lạc Bak tới phía đông Tân Cương, dọc theo sông Kashgar hoặc Tarim, rồi sau đó đến phía đông Côn Lôn, gọi là “đất hoa,” một cái tên từ lâu gắn liền với TQ. Đó là những yếu tố Lacouperie rút ra khi so sánh những địa danh và tên gọi giữa truyền thuyết của TQ với những tình tiết trong cuộc di dân của bộ tộc Bak dưới do Nakhunte lãnh đạo. Mặc dù bộ tộc Bak được chỉ huy của một vị lãnh đạo tối cao của Nakhunte, họ chia thành nhiều nhóm và không đến TQ cùng một lúc. Mỗi nhóm có một vị lãnh đạo có quan hệ với các bộ lạc bắc Tây Tạng. Nakhunte (Hoàng Đế) chỉ đến được tây bắc Trung Quốc mà không đến được lưu vực Hoàng Hà, rồi chết tại Ninh Hạ gần biên giới Cam Túc và Thiểm Tây hiện nay. Phục Sinh (Sieh), tác giả của Kinh Thư, làm quan cho Thuấn, là một hậu duệ từ các bộ lạc phương Tây, và là tổ tiên của triều đại Thương [2].

Hình 1: Đền Thờ Mặt Trời ở Tân Cương

Ngoài những xác ướp người Âu, một đền thờ mặt trời được khảo cổ tìm ra ở Tân Cương năm 1993 (Hình 1). Đền thờ hình tròn, đường kính 100 mét, xây từ thờ đồ đồng, cách đây khoảng 3000 năm. Đền thờ này tương tự những đền thờ khác tìm thấy ở vùng thảo nguyên Âu Châu [70].

Vì hiện diện của những xác ướp và đền thờ của người Âu ở Tân Cương, người viết này đưa ra một giả thuyết là cách đây nhiều ngàn năm, dân cư phía tây bắc TQ là người Âu, và những người gốc Trung Đông. Những cư dân này là chủ nhân của nền văn minh mà TQ thừa hưởng. Khi nhiệt độ trái đất trở nên ấm hơn, những nhóm người đó di chuyển về Âu Châu. Giả thuyết này giải thích một sự kiện quan trọng là từ cuối triều đại nhà Chu đến nay, TQ không có một sáng tạo nào đáng nói nữa.


CHỮ VIẾT CỦA TRUNG QUỐC

Bộ tộc Bak đã học được chữ viết từ Babylon và sau đó mang theo về phía đông kiến thức này, với nhiều yếu tố khác của văn hoá Chaldea. Phần lớn chữ của Babylon được viết trên đất sét theo dạng hình nêm (cuneiform), mà người Hoa nói là do Thương Hiệt đã bắt chước hình dạng của dấu chân chim mà sáng tạo ra và gọi là chữ Khoa Đẩu. Thay vì dùng đất sét như Babylon, do những điều kiện chung quanh, bộ tộc Bak phải dùng dao để viết trên vỏ tre, mà người Hoa gọi là giản thư. Vì phải viết trên diện tích nhỏ đó, họ buộc phải viết chữ tròn, với những nét đậm ở đầu này và nhạt ở đầu kia. Đặc tính nổi bật của cách viết này TQ gọi là Khoa đẩu còn được dùng đến ngày nay [2]. Điều này một số học giả không đồng ý với Lacouperie. Tuy nhiên, chữ viết là một quá trình sáng tạo kéo dài nhiều ngàn năm. Quá trình ấy của TQ là một điều hoàn toàn bí ẩn. Theo John DeFrancis, lịch sử văn học của Sumer có thể truy về tận lúc khởi đầu, nhưng nguồn gốc của văn học Trung Quốc rất mơ hồ và đầy tranh cãi. Dấu vết lâu đời nhất về chữ viết của Trung Quốc là cuối triều đại nhà Thương (1200-1045 TCN). Vào thời điểm đó chữ viết đó đã được phát triển đầy đủ và còn được dùng ngay đến bây giờ với vài thay đổi nhỏ [23]. Đồng thời, theo học giả Paul Carus, có một sự tương đồng không thể nhầm lẫn giữa hình nêm và chữ viết của Trung Quốc, đến nỗi chúng chỉ có thẻ bắt nguồn từ một nguồn chung [24]. Schmandt-Besserat viết rõ hơn [25]:

Nguồn gốc của chữ viết của Trung Quốc và phát triển văn viết Trung Mỹ vẫn còn mơ hồ. Tuy nhiên, chữ viết của Trung Mỹ có một lịch sử phát triển rõ ràng với hơn 10 ngàn năm liên tục, với nhiều thay đổi đáng kể về hình thức, và dần dần diễn tả ngôn ngữ nói chính xác hơn, và dùng các thuật ngữ trừu tượng hơn. Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật nhất của tất cả các hệ thống chữ viết là sự lâu bền của chúng, và đó là những sáng tạo không thể trùng hợp. Ngược lại, chữ viết của Trung Quốc không cần phải giải mã vì trong suốt 3400 năm lịch sử của nó, chẳng có thay đổi nào đáng kể. Nó luôn luôn là tượng hình, và nếu cần, chỉ bổ xung một ít ký tự là đủ. Các ký hiệu ngữ âm của Trung Mỹ dùng những biểu tượng đã có từ nhiều ngàn năm trước. Tương tự thế, khoảng 300 SCN, chữ viết trên đất sét cuối cùng tìm được ở Cận đông dùng hình nêm đã có trước 3000 năm. Nó thay thế một hệ thống mã đã có trước nó hơn 5000 năm; cuối cùng nó đã được thay thế bởi bằng chữ dùng mẫu tự từ hơn 3500 năm qua.

Hình 2: Thông Điệp của Cyprus

Bên cạnh những đồ gốm và đồ đồng còn có thông điệp của đại đế Cyprus, vua của Ba Tư. Sau khi chinh phục Babylon năm 539 TCN, Cyprus đã công bố thông điệp về nhân quyền viết bằng hình nêm trên một ống đất sét (Hình 2). Trong thông điệp đó, Cyprus đã kể tội vua Nabonidus của Babylon đã xúc phạm đến thần Marduk, vị thần tối cao của Babylon.

Thông điệp cũng công bố những việc Cyprus đã làm để cải thiện đời sống người Babylon, đã giải phóng nô lệ, trong đó có người Do Thái, và cho phép họ hồi hương, và cho phép trùng tu các đền thờ và những cơ sở tôn giáo. Thông điệp Cyprus đã được tìm thấy năm 1879 nhưng không được các nhà khảo cổ chú ý. Đến năm 2010, khảo cổ tìm thấy hai bản sao của thông điệp này ở TQ viết bằng hình nêm trên xương ngựa. Hiện diện của hai bản sao này không quan trọng lắm, vì giao thương giữa Ba Tư, Babylon và TQ đã có trước khi Babylon xụp đổ. Từ 206 TCN đến 221 SCN, nhà Hán đã có liên hệ ngoại giao với Ba Tư. Tuy nhiên, câu hỏi là thông điệp của Cyprus có gì quan trọng đối với TQ, đến nỗi thay vì dùng đất sét, họ đã dùng xương ngựa để viết, như các giáp cốt văn khác trong triều nhà Thương [26].

Điểm nổi bật của thông điệp Cyprus phát hiện tại TQ được viết trên xương ngựa, bằng chữ hình nêm, có nhiều nét giống giáp cốt văn dùng để ghi chép lại nội dung chiêm bốc của Hoàng thất lên trên mai rùa hoặc xương thú (Hình 3). Giáp cốt văn là một hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh, được phát triển và sử dụng vào cuối đời Thương (thế kỷ 14-11 TCN). Sau khi lật đổ nhà Thương, nhà Chu vẫn tiếp tục sử dụng thể chữ này. Loại chữ viết này được xem là chữ cổ xưa nhất và là nguồn gốc hình thành chữ Hán hiện đại.

Hình 3: Giáp Cốt Văn

Giáp cốt văn được phát hiện tại khu vực làng Tiểu Đốn, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, và có niên đại cách đây khoảng 3000 năm, được chia làm 2 loại là giáp văn và cốt văn. Giáp văn được khắc trên mai bụng rùa, một số ít được khắc trên lưng; cốt văn được khắc trên xương trâu. Một số khác được phát hiện tại kinh đô Ân Khư của nhà Ân. Các cuộc khai quật đã phát hiện được khoảng 15 vạn mảnh xương như thế, có khoảng 4.500 chữ. Những điểm tương đồng giữa hình nêm và giáp cốt văn chứng tỏ nguồn gốc chữ viết của TQ chỉ có thẻ bắt nguồn từ một nguồn chung [24].


THẦN THOẠI

Nhiều thần thoại của TQ cũng có gốc từ Babylon, trong đó có các thần thoại như Bàn Cổ, Toại Nhân và đại hồng thủy. Bàn Cổ, Toại Nhân có nhiều điểm tương đồng với thần thoại của Đông Âu và Cận Đông. So với hai thần thoại này, đại hồng thủy có những điểm tương đồng không thể lầm lẫn với thần thoại của Sumer, Babyon, Ấn Độ và Do Thái.

THẦN THOẠI BÀN CỔ

Nổi bật nhất là thần thoại về Bàn Cổ, người đã dựng lên vũ trụ. Theo Paul Goldin, các học giả chủ trương “Trung Quốc không có thần thoại sáng tạo” đều bác bỏ quan điểm thần thoại Bàn Cổ là của Trung Quốc. Theo họ, thần thoại đó chỉ xuất hiện cuối thời thượng cổ, và vì nó có rất nhiều tương đồng với các thần thoại Đông Âu và Cận Đông [29]. Thí dụ, quan điểm chung của Đào Tông Nghi ( 陶宗儀 Rao Zongyi) là những chuyện sáng tạo có cả trong các tác phẩm cổ điển của Đạo gia, và các tài liệu sau này. Điều này phản ánh ảnh hưởng của Phật Giáo và các hệ tư tưởng nước ngoài [29, 30, 31]. Frederick Mote cũng có quan điểm tương tự. Mote viết, “Thần thoại Bàn Cổ chỉ xuất hiện trong các tài liệu của Trung Quốc sau thế kỷ thứ hai SCN, khi vũ trụ quan của Trung Quốc đã có một hệ thống rõ ràng, và do đó có nguồn gốc từ bên ngoài. Có thể nó đến từ Ấn Độ, vì ở đó có một chuyện sáng tạo khá giống của Trung Quốc, mặc dù các truyền thuyết của người Miao ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á cũng có những phiên bản tương tự với phiên bản của Trung Quốc” [29, 32].

THẦN THOẠI TOẠI NHÂN

Ngoài thần thoại Bàn Cổ, thần thoại Toại Nhân là người dạy dân dùng lửa cũng có gốc từ Ấn Độ. Thần thoại này tây phương gọi là Prometheus. Thần thoại Hy Lạp tin rằng Prometheus là người đã tạo ra nhân loại và đã ăn cắp lửa từ núi Olympus và đem xuống trái đất cho loài người. Nhưng, thật ra, Prometheus là lối phát âm từ chữ pramantha của Ấn Độ, một dụng cụ dùng để tạo ra lửa bằng cách xoay mạnh một thanh gỗ tròn trên một miếng gỗ khác [24, 33].

HUYỀN SỬ ĐẠI HỒNG THỦY CỦA ĐẠI VŨ

Ngoài thần thoại Bàn Cổ và Toại Nhân, còn có huyền sử đại hồng thủy đã xảy ra trong đời Đại Vũ, người khai sáng nhà Hạ. Theo truyền thuyết, nhà Hạ thành lập năm 2205 TCN, sau khi Đại Vũ thành công trong việc trị thủy và được Thuấn nhường ngôi. Vũ chết năm 2197 TCN và truyền đến đời 17 là hết. Trong số 10 vua thời huyền sử của Trung Quốc, Vũ là nhân vật quan trọng nhất vì trong lúc trị thủy, ông nhận được một bức tranh trên sông Lạc, gọi là Lạc thư, rồi từ đó đặt ra Hồng Phạm và Cửu Trù (Hình 4).

Gần đây huyền sử đại hồng thủy xảy ra trong đời Đại Vũ đã được Joseph Campbell chứng minh có nhiều điểm tương đồng với huyền sử đại hồng thủy của các nền văn minh Sumer, Babylon, và Do Thái [34]. Ngoài huyền sử đại hồng thủy của bốn nền văn minh đó, còn nhiều huyền sử tương tự của nhiều dân tộc khác [35]. Tuy nhiên, bốn nền văn minh đó – Trung Quốc, Sumer, Babylon, và Do Thái – có hai điểm chung mà các dân tộc khác không có. Trước hết, Sumer, Babylon, và Trung Quốc đều có 10 vua; Do Thái có 10 tổ phụ. Hai là đại hồng thủy đều xảy ra trong đời vua thứ 10, hoặc tổ phụ thứ 10 (Bảng 1). Cũng theo Campbell, bằng chứng lịch sử của nhà Thương đã có đủ, nhưng cho đến nay, học giả thế giới vẫn xếp nhà Hạ vào loại huyền sử vì nhiều bằng chứng cần thiết vẫn chưa tìm được [34]. Thế thì biến cố đại hồng thủy xảy ra với Đại Vũ không phải là một biến cố lịch sử, mà là huyền sử. Và vì Sumer và Babylon có một lịch sử lâu đời hơn Đại Vũ, huyền sử đại hồng thủy của Đại Vũ phải có gốc từ những nền văn minh đã có trước, tức là từ Sumer và Babylon. Hơn nữa, vì đại hồng thủy đều xảy ra trong đời thứ 10 của cả 4 nền văn minh, khó có thể nói đại hồng thủy của Đại Vũ với đại hồng thủy của các nền văn minh kia chỉ là một tình cờ.

Ngoài hai chi tiết đó, Đại Vũ và Noah đều bị què trong lúc lụt, và sau trận lụt cả hai đều say rượu. Về chuyện Đại Vũ bị què, truyền thuyết nói ông đi trị thủy mười năm không về nhà một lần, móng tay, móng chân rụng hết, lông chân không còn một sợi. Một hôm ông ấy bị bạo bệnh đến nỗi một nữa người bị co lại. Từ đó trở đi, khi Vũ đi, chân này không bước quá chân kia. Người đời gọi bước đi ấy là Vũ bộ (bước đi của Vũ). Noah thì một hôm trong tầu quên không cho sư tử ăn nên bị nó cào một cái đến phải liệt hết nửa người. Noah từ đó bị què cho đến chết [34].

Về chuyện say rượu của Đại Vũ và Noah. Vũ cổ dài, miệng mỏ quạ, mặt mày xấu xí nhưng được thiên hạ đi theo và coi như một hiền giả vì ông ấy rất chuyên cần học tập. Một người đàn bà trong triều nấu rượu rất ngon đem dâng cho Vũ. Vũ uống thấy rất ngon nhưng đuổi bà ấy đi và nói, “Sau này sẽ có nhiều người táng quốc, vong gia cũng vì chén rượu” [34]. Noah thì sau trận lụt trở thành một nông dân trồng nho mà sống. Lấy nho làm rượu ông ấy uống đến say và trần truồng trong lều (Genesis 9:20–21). Như vậy giữa Đại Vũ và Noah có những điểm tương đồng như sau:

  1. Đại Vũ và Noah cùng đứng thứ mười trong danh sách.
  2. Lụt cùng xảy ra trong đời của Đại Vũ và Noah.
  3. Đại Vũ và Noah đều bị què trong lúc lụt.
  4. Đại Vũ và Noah đều say rượu.

Ngoài huyền sử đại hồng thủy nói trên còn có thần thoại của Ấn Độ. Manu là người đầu tiên của nhân loại. Vì mang ơn Manu, một con cá có sừng cảnh báo Manu lụt lớn sắp tới sẽ tiêu diệt toàn thể nhân loại. Tin lời nó, ông đóng một chiếc thuyền. Khi nước lũ đến, ông buộc thuyền vào sừng cá để nó kéo thuyền lên đỉnh núi. Nhờ đó mà ông ấy thoát chết, trong khi cả nhân loại đều bị tiêu diệt. Sau một năm một phụ nữ sinh ra từ biển tuyên bố cô là con gái của Manu và trở thành tổ tiên mới của nhân loại [36]. Trong chiêm tinh, cá có sừng là cung ma kết, thuộc về tháng 10. Mặc dù là chuyên gia nổi tiếng thế giới về huyền sử, Joseph Campbell đã không giải thích vì sao đại hồng thủy xảy ra trong tháng 10, và cả Noah lẫn Đại Vũ đều què, và đều say rượu. Có hai cách giải thích huyền sử đó – chiêm tinh và sinh học.

GIẢI THÍCH CHIÊM TINH

Trước hết, cần phải hiểu tên các tháng theo Tây phương. Trước 1582, Tây phương theo lịch Caesars, bắt đầu năm mới ngày Xuân phân 21 tháng 3 mỗi năm. Nhưng đến 1582 Tây phương theo lịch Gregory bắt đầu năm mới ngày 1 tháng Giêng. Cho nên theo lịch Caesars:

  • Tháng 1 March (Mars, hỏa tinh);
  • Tháng 2 April (nữ thần Aphrodite);
  • Tháng 3 May (nữ thần Maia);
  • Tháng 4 June (nữ thần Juno);
  • Tháng 5 July (Julius Caesar);
  • Tháng 6 August (Augustus Caesar);
  • Tháng 7 September (septem, Latin = 7);
  • Tháng 8 October (octo, Latin = 8);
  • Tháng 9 November (novem, Latin = 9);
  • Tháng 10 December (decem, Latin = 10);
  • Tháng 11 February (Februa = lễ hội cuối năm);
  • Tháng 12 December (decem, Latin = 10).

Thế thì đại hồng thủy xảy ra vào đời tổ phụ thứ 10, tức tháng thứ 10 theo lịch Caesars, hay tháng 12 ngày nay. Mà theo chiêm tinh, tháng 10 thuộc cung Ma kết (Capricorn), nghĩa là con vật mình dê đuôi cá, tượng trưng vực sâu, đại dương. Đó là ý của đại hồng thủy xảy ra vào tháng 10 (tức tháng 12 bây giờ). Ngoài ra, nếu không ở gần bắc cực sẽ không biết. Ngày đông chí xảy ra ngày 21 tháng 12 (hay 25/12 theo lịch Caesars, và đó là ngày Chúa xuống trần); trong suốt mùa Đông, tuyết phủ trắng không gian, có lúc tuyết lên cao cả mét, đi lại rất khó khăn. Đó là “què”; Noah và Đại vũ đều què lúc đại hồng thủy xảy ra. Hơn nữa, mùa Đông gần bắc cực lạnh vô cùng; một cách để sửa ấm là uống rượu, hay hút bồ đà. Cho nên ở những vùng đó say xỉn là thường. Đó là ý nói Noah và Đại vũ đều say.

GIẢI THÍCH SINH HỌC

Bên cạnh giải thích chiêm tinh, giải thích sinh học thú vị hơn vì ai cũng trải qua mà không biết. Thường khoảng 9 tháng 10 ngày đứa trẻ ra đời. 9 tháng 10 tức là tháng thứ 10, bọc nước tử cung bể, đứa trẻ cảm thấy như thể bị nước cuốn trôi; đó là đại hồng thủy đối với nó. Và vài tháng sau khi mới sinh nó mới biết bò; khoảng 2 năm mới biết đi; 4-5 tuổi mới có thể chạy. Nghĩa là từ sơ sinh đến 4-5 tuổi đứa trẻ như thể què. Đó là ý nói Noah và Đại vũ đều què. Quan trọng hơn nữa, trước khi lý tính và trí nhớ xuất hiện lúc 7 tuổi, đứa trẻ không có cảm giác về chính nó, về người, về ta. Đó là ý nói Noah và Đại vũ đều say.


THUYẾT ÂM DƯƠNG

Âm Dương là một khái niệm có thể hệ thống hóa mọi hiện tượng bao gồm những cặp tương phản trên thế gian này, chẳng hạn, nam, nữ; ngày, đêm; tích cực, tiêu cực… Những cặp đối được diễn tả bởi một vạch liền ( ), tượng trưng dương, và hai vạch đứt ( ), tượng trưng âm [37]. Hai chữ “Âm Dương” xuất hiện sớm nhất từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 TCN, và trở thành một học thuyết rất hành vào đời Hán của Âm Dương gia [37], và cuối cùng trở thành nền tảng của Kinh Dịch [37]. Đến thế kỷ thứ 6 TCN, Kinh Dịch mới được coi là một tác phẩm triết học [38, 39], nghĩa là thuyết Âm Dương xuất hiện sau Kinh Dịch, mặc dù hai chữ đó xuất hiện thường xuyên trong Dịch Hệ Từ. “Nhất âm, nhất dương chi vị đạo” [38]. Tuy nhiên, trong luận án tiến sĩ tại đại học Standford, The Composition of the Zhouyi (Cấu trúc của Chu Dịch), khi bàn đến thuyết Kinh Dịch, Edward Shaughnessy không hề nhắc đến Âm Dương; ông cũng nhận xét rằng Kinh Thư và Kinh Thi đôi khi nhắc đến “Âm” và “Dương”, nhưng chúng không có nghĩa như hai nguyên lý vũ trụ đối ứng nhau như thuyết Âm Dương [38, 39]. Hơn nữa, tất cả các giáp cốt văn và chung đỉnh văn không hề nhắc đến Âm Dương [38, 40]. Thế thì khó lòng gắn thuyết Âm Dương với một tên tuổi, hay một trường phái nhất định nào [38].

Ngoài quan điểm của các tác giả TQ và những tác giả tây phương hiện đại, còn một giả thuyết của Terrien de Lacouperie về thuyết Âm Dương. Theo Lacouperie, Âm Dương chính là khái niệm Anu và Anat của Babylon, nhưng ý nghĩa của chúng đã hoàn toàn thất truyền [2]. Một giả thuyết khác của Paul Carus về Âm Dương, nói rằng chúng chính là Urim và Thummin của Do Thái [24]. Cũng như Anu và Anat, ý nghĩa của Urim và Thummin đã hoàn toàn thất truyền. Tuy nhiên, trước khi được đại đế Cyprus của Ba Tư giải phóng sau khi chinh phục được Babylon, Urim và Thummin thường được các tu sĩ Do Thái dùng để biết ý Chúa trong những hoàn cảnh đặc biệt. Họ thường đeo túi trước ngực với hai thanh gỗ nhỏ hay hai cục đá, một trắng, một đen, tượng trưng có hoặc không, để trả lời một câu hỏi cụ thể. Nếu Do Thái chuẩn bị chiến tranh, họ sẽ rút hai thanh gỗ. Nếu được cây đen, họ sẽ không ra trận. Mà nếu được cây trắng, họ sẽ ra trận với niềm tin họ làm theo ý Chúa. Đó là một hình thức bói toán trong Cựu Ước. Sách Xuất hành 28:30 viết, “Hãy để Aaron (A-rôn) đeo Urim và Thummin trước ngực, bên trên tim, mỗi khi ông đến trước mặt Chúa. Như vậy, A-rôn luôn luôn sẵn sàng đưa ra quyết định cho người Do Thái trong tim mình trước mặt Chúa.” Ngày nay các nhà thần nghiệm dùng urim và thummin như một phương tiện để tìm đến thánh linh. Nhiều giải thích huyền ảo đã được đưa ra, có thứ có thể phát sáng, Có thứ khắc mật chú trên đó, hoặc đồ cổ có sức mạnh kỳ diệu. Tuy nhiên, câu trả lời dứt khoát không phải lúc nào cũng có, vì nó không đơn giản như ném hai cục đá xuống đất. Đó là lý do Moses (Mai-Sen) không hề dùng đến. Chúng được các thầy cả thượng phẩm dùng để giúp những người không có cách nào tìm được hướng dẫn của Thiên Chúa [41].

Có người dịch urim và thummin là “lời nguyền” và “phước lành.” Lại có người dịch là “tối” và “sáng”, mặc dù theo nghĩa đen là “sáng” và “hoàn hảo.” Tuy nhiên, không có bằng chứng chỉ có hai nghĩa. Một số thầy tu Do Thái cổ đại tin rằng urim và thummin là một loạt đá với chữ Do Thái mà Chúa có thể mặc khải cho các thầy tu. Tuy nhiên, hầu hết các học giả tin rằng chúng là hai thanh gỗ, hoặc đá quý, mà Chúa sử dụng một cách kỳ diệu để bày tỏ ý muốn của Ngài. Chúng đã được dùng cho các quyết định quốc gia như chiến tranh, và các vấn đề của tu sĩ. Ý nghĩa của urim và thummin mất dần sau thời gian lưu vong của người Do Thái ở Babylon năm 586 TCN, có lẽ vì khi các vị tiên tri xuất hiện, urim và thummin không còn cần thiết nữa. Tiên tri là những sứ giả truyền đạt những sứ điệp của Chúa vì thường xuyên được Chúa soi sáng. Vì thế urim và thummin đã thất truyền vì Chúa chỉ dùng chúng để giúp dân của Ngài tại một điểm nhất định trong lịch sử [41]. Khi truyền thống tiên tri xuất hiện, và chỉ Do Thái mới có truyền thống này, urim và thummin đã trở thành lịch sử.

Với ý nghĩa đã bị thất lạc của Anu và Anat của Babylon, hoặc Urim và Thummin của Do Thái, khó có thể xác định nguồn gốc tây phương của thuyết Âm Dương. Tuy nhiên, khi gắn liền thuyết Âm Dương với Kinh Dịch sẽ dẫn đến 6 vấn đề không thể giải quyết được.

  • 1, thuyết Âm Dương ra đời sau Kinh Dịch [38].
  • 2, với 64 thoán từ và 384 hào từ, Kinh Dịch không hề nhắc đến Âm, Dương;
  • 3, khi nói mỗi trùng quái do một hỗn hợp của 6 vạch liền (dương) và vạch đứt (âm), tức là 6 vạch, hay 6 hào trong cùng một quẻ này không có liên hệ gì với nhau. Điều này mâu thuẫn với thuyết Tam Tài, nói rằng hào 1 và 2 làm thành một nhóm, gọi là Địa, và hai hào 3 và 4 thuộc Nhân, và hai hào 5 và 6 thuộc Thiên. Mâu thuẫn này xảy ra vì TQ không hiểu thuyết Tam Tài, và vì Kinh Dịch không phải của TQ;
  • 4, vấn đề này liên quan đến nguyên tắc toán học. Theo thuyết Âm Dương, mỗi trùng quái có 6 hào, mỗi hào có 2 trường hợp, hoặc âm, hoặc dương. Vì mỗi hào có 2 trường hợp, mà có 6 hào, có tất cả 64 = 2x2x2x2x2x2 trường hợp khả hữu. Đó là phương pháp thứ nhất để có 64 trùng quái, theo công thức thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh trùng quái. Tuy nhiên, phương pháp này vi phạm nguyên tắc toán học vì nếu dùng hai kí hiệu, âm và dương, thì phải dùng 2 kí hiệu này 6 lần mới đủ. Nguyên tắc của toán học là phải dùng một số kí hiệu nào đó để những lần lập lại càng ít càng tốt. Theo nguyên tắc này, dùng hai kí hiệu thì phải lập lại 6 lần. Quá nhiều! Nếu dùng 3 kí hiệu, thí dụ A, B, C, thì không có tổ hợp 3 kí hiệu nào có thể có 64 trường hợp. Thí dụ, nếu dùng 3 kí hiệu 3 lần ta sẽ có 27=3x3x3, không đủ. Mà nếu dùng 3 kí hiệu 4 lần, ta sẽ có 81=3x3x3x3, quá nhiều. Cách khác là dùng 8 kí hiệu và lập lại 2 lần thì được 64=8×8. Phương pháp này lấy 2 đơn quái chồng lên nhau. Đó là cách thiết lập 64 trùng quái của Phục Hi. Nhưng phương pháp này vi phạm nguyên tắc toán học vì phải dùng 8 kí hiệu. Quá nhiều!

Như vậy 2 phương pháp để có 64 trùng quái của TQ đều có vi phạm nguyên tắc toán học, vì hoặc quá ít kí hiệu, hoặc quá nhiều kí hiệu.

Còn một phương pháp nữa là dùng 4 kí hiệu và 3 lần. Theo cách này ta sẽ có 64=4x4x4. Đó là 64 mã di truyền dùng 4 axit cơ bản, A, T, G, C của AND có cùng cơ cấu với 64 quẻ Dịch (Hình 5). Phương pháp này thích hợp nhất và không vi phạm nguyên tắc toán học mà thiên nhiên cũng phải theo để có 64 mã di truyền. Trong điện toán, 0 và 1 có thể diễn tả bất kỳ số trường hợp nào, và hai kí hiệu 0 và 1 trong điện toán không thể tách rời nhau vì 0 không có 1, hay 1 không có 0 hoàn toàn vô nghĩa. Bốn axit cơ bản, A, T, G, C của ADN có thể diễn tả bằng 2 kí hiệu 0 và 1 như sau:

A = 00; T = 01; G = 10; C = 11. Trong trường hợp này 0 và 1 không thể đứng độc lập nhau.

Tuy nhiên, phương pháp dùng 2 kí hiệu 0 và 1 để diễn tả 4 trường hợp của điện toán không gợi ý bất kỳ hình ảnh nào. Vì vậy, thay vì 00, 01, 10, và 11, Kinh Dịch dùng hai kí hiệu một vạch đứt (âm) và một vạch liền (dương) để diễn tả 4 trường hợp (Hình 6), và quan trọng hơn hết, hai vách đứt và liền của Kinh Dịch không thể tách rời nhau, nghĩa là âm không thể độc lập với dương, và ngược lại. Đó là lý do trong một quẻ Dịch, các cặp 1 và 2; 3 và 4; 5 và 6 có thể diễn tả bằng 2 vạch âm, dương.

Phương pháp này chính là phương pháp của Chu Dịch Vạn Xuân dùng 4 kí hiệu 3 lần. Nó không những không vi phạm nguyên tắc toán học, mà còn hợp với thuyết Tam Tài. Trong công thức 64=4x4x4, số 4 đầu tiên thuộc Địa, số 4 ở giữa thuộc Nhân, và số 4 cuối cùng thuộc Thiên. Như vậy cấu trúc của Chu Dịch Vạn Xuân chính là cấu trúc của ADN và RDN, và chúng khác hẳn hai phương pháp của TQ để có 64 trùng quái, nghĩa là âm và dương trong thuyết Âm dương của TQ không phải âm và dương của Kinh Dịch. Điều này thể hiện trong hai phương pháp tạo quẻ của TQ và CDVX. TQ lấy 2 bát quái chồng lên nhau, nghĩa là 64 = 8×8, còn 64 quẻ của CDVX là 64 = 4 x 4 x 4.

Mặc dù kết quả của ba phương pháp đều có 64 trùng quái – 2 kí hiệu, 8 kí hiệu, và 4 kí hiệu – nhưng phương pháp của Chu Dịch Vạn Xuân (CDVX) thích hợp nhất vì đó chính là phương pháp mà thiên nhiên dùng để có 64 mã di truyền.

  • 5, thuyết Âm Dương không có cơ sở khoa học. Trên bình diện vĩ mô, tức là thế giới của những cái có thể thấy được, sờ được của giác quan, thuyết Âm Dương có thể áp dụng một cách tổng quát, vì phần lớn những hiện tượng trong vũ trụ này đều có thể được chia ra làm hai nhóm đối nghịch nhau như đã bàn bên trên. Tuy nhiên, hai nhóm đó chỉ là những trường hợp đặc biệt, cực đoan vì giữa hai thái cực đó còn vô số những trường hợp không thuộc cực đoan này, cũng không thuộc cực đoan kia. Thí dụ, thuyết Âm Dương chia mỗi ngày ra 2 thái cực, ngày và đêm, nhưng từ sáng đến tối còn có trưa, có chiều; lại có 2 lần choạng vạng từ đêm sang ngày, và từ ngày sang đêm. Và trên bình diện vi mô, tức là thế giới của nguyên tử và bên dưới nguyên tử, khi các nhà vật lý đập vỡ một nguyên tử, họ phát hiện ba loại vật chất: electron (âm điện tử) có điện âm, proton có điện dương, và neutron không có điện. Mà nếu đập vỡ 3 loại vật chất này, họ phát hiện nhiều loại vật chất khác, không phải chỉ có hai. Ngoài ra, theo vật lý học hiện đại, chỉ có ba lực chi phối mọi hiện tượng trong vũ trụ này, bao gồm cả hai thế giới vi mô và vĩ mô. Ba lực đó là lực mạnh (strong force), điện từ yếu (electro weak), và trọng lực. Hai lực mạnh và lực yếu chỉ có hiệu lực trong thế giới vi mô. Trọng lực chi phối sự vận hành của các thiên thể, trăng sao, mặt trời, trái đất và các thiên hà. Ba lực này được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Kinh Dịch gọi là Tam Tài. Huyền môn gọi là Luật Số Ba, tức là ba tác nhân gây ra mọi biến động trong vũ trụ này, vì theo huyền môn, một hay hai lực không đủ để tạo ra một phản ứng. Và do đó, thuyết Âm Dương không có cơ sở luận lý, cũng không có cơ sở khoa học.
  • 6, và cuối cùng, nói rằng Tam tài gồm 3 yếu tố Thiên, Nhân, Địa cũng sai hoàn toàn. TQ nói rằng Kinh Dịch bàn về những biến động (Dịch) trong vũ trụ mà nói “Nhân” là một trong 3 tác nhân gây ra mọi biến động hoàn toàn vô lý. Trước khi con người (Nhân) xuất hiện, không có biến động sao? Vậy thì cách nào để có các thiên hà, trăng, sao? Theo CDVX, mọi biến động trên Trái đất này đều chịu ảnh hưởng của ba thiên thể: Trời, Đất, Trăng (Hình 7). Mặt trời cho năng lượng sống; Đất nuôi dưỡng sự sống; Mặt trăng bảo vệ sự sống. Hình 7 từ nhiều ngàn năm qua đã bị hiểu lầm là chữ “Kinh Dịch”, nhưng thật ra, đó là Đồ hình Kinh Dịch: ba thanh ngang bên trên tượng trưng Trời, Đất, Trăng; còn 4 đuôi bên dưới là kí hiệu của tứ tượng (Hình 6). Ba thiên thể này tạo nên Cây Sự sống Vạn Xuân (Hình 8) sẽ bàn trong chương khác.

THUYẾT NGŨ HÀNH, CAN, CHI

Nói đến Âm Dương tức là nói đến Ngũ Hành vì cụm từ “Âm Dương, Ngũ Hành” luôn luôn đi đôi với nhau gần như một thành ngữ. Hơn nữa, Âm Dương và Ngũ Hành là hai yếu tố nền tảng của những cái-gọi-là khoa học của TQ như Tử Vi, Tử Bình, Thái Ất, Độn Giáp, phong thủy, địa lý, đông y…. Tuy nhiên, cũng như Âm Dương, Ngũ Hành không có cơ sở luận lý và khoa học. Và khác Âm Dương, có nhiều bằng chứng Ngũ Hành có gốc từ tây phương.

NGŨ HÀNH LÀ GÌ

Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê viết về Ngũ Hành như sau [42]:

Dịch không trực tiếp đề cập đến Ngũ Hành. Ngược lại Ngũ Hành đã được đề cập đến ở Kinh Thư, Thiên Hồng Phạm; ở Lễ Ký, Thiên Nguyệt Lệnh. Tuy nhiên, trong bộ Ngự Án Đại Toàn Dịch Kinh Tôn Bổ, nơi chương Văn Vương Bát Quái phương vị, ta cũng thấy có đôi nhà bình giải đề cập đến vấn đề Ngũ Hành, trong đó có Ngự Án của Khang Hi, và lời bình của Hạng Bình Am.

Ngự Án bình nói rằng: Khảm Thủy, Ly Hỏa, Tốn Mộc, Khôn Thổ thì đã đành là hợp với Tượng các quẻ (ở trong Thuyết quái). Đến như Kim, thì mới chỉ là một trong những Tượng quẻ Kiền; Thương Lang Trúc (Mộc) thì mới chỉ là một trong những Tượng quẻ Chấn. Cấn mà suy ra là Thổ thì cũng tạm gọi là được; đến như Đoài thì tuyệt không thấy có Tượng là Kim. Thứ tự các quẻ Hậu Thiên đem Ngũ Hành phối hợp với Tứ Thời.

o Chấn Tốn đều thuộc Mộc chủ Xuân, cho nên Chấn ở Đông phương, Tốn ở Đông Nam.
o Ly, Hỏa, chủ Hạ nên ở Nam.
o Đoài, Kiền, hai Kim, chủ Thu, nên Đoài ở Chính Tây, Kiền ở Tây Bắc.
o Khảm Thủy, chủ Đông, nên là quẻ của Bắc phương.
o Thổ vượng Tứ Quí, nên Khôn thổ ở Hạ, Thu giao nhau, tức là ở phía Tây Nam. Cấn Thổ, tại nơi Đông Xuân giao nhau, tức là ở Đông Bắc.
o Mộc, Kim, Thổ mỗi hành có 2 quẻ. Đó là hình vượng. Thủy, Hỏa có một quẻ. Đó là khí vượng.
o Khôn, Thổ Âm cho nên ở phía Âm.
o Cấn, Thổ Dương cho nên ở phía Dương.
o Chấn là Dương Mộc cho nên ở chính Đông. Tốn là Âm Mộc cho nên ở gần phía Nam và tiếp giáp với Âm.
o Đoài là Âm Kim nên ở phía Tây.
o Kiền là Dương Kim cho nên ở gần phía Bắc và tiếp giáp với Dương.

Ngoài ra, Ngũ Hành còn có sinh, có khắc. Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê viết thêm về ngũ hành như sau [42]:

Ngũ Hành có thể hiểu được là 5 yếu tố cần thiết cho sự sống. Xét theo không gian thì Ngũ Hành lại chiếm 5 vị trí chính yếu là Đông (Mộc), Tây (Kim), Nam (Hỏa), Bắc (Thủy), Trung (Thổ). Xét về thời gian, thì Ngũ Hành chính là 5 thời đại khác nhau, 4 mùa biến thiên bên ngoài: Mộc – Xuân, Hỏa – Hạ, Kim – Thu, Thủy – Thu, và 1 mùa hằng cửu bên trong (Thổ), vừa là mùa Hoàng Kim khởi thủy, vừa là mùa Hạnh phúc lý tưởng lúc chung cuộc.

Người có thân và thù, thì Ngũ Hành cũng có tương sinh (Hình 9), tương khắc (Hình 10). Ngũ Hành tương sinh là: Mộc sinh Hỏa. Hỏa sinh Thổ. Thổ sinh Kim. Kim sinh Thủy. Thủy sinh Mộc. Ngũ Hành tương khắc là: Mộc khắc Thổ. Hỏa khắc Kim.Thổ khắc Thủy. Kim khắc Mộc. Thủy khắc Hỏa. Sinh có thể hiểu được là sinh dưỡng, phù trợ, tác phúc, tóm lại bao gồm tất cả mọi ảnh hưởng tốt. Khắc có thể hiểu được là kiềm chế, thù địch, lấn át, xung khắc, tác hại, tóm lại tất cả mọi ảnh hưởng xấu.

Ngũ hành còn đi với các số và phương hướng cũng như thời tiết, màu, vị: tất cả ràng buộc với nhau như một cơ thể sống động. Thí dụ, Thủy số 1, thuộc mùa Đông, hướng Bắc, và màu đen; Hỏa số 2, thuộc mùa Hạ, hướng Nam, màu đỏ (Hình 10).

Ngoài ra, theo Kim Định, Ngũ Hành còn có “thanh âm, vị, lục phủ, ngũ tạng như xem trong bảng Nguyệt lệnh. Tất cả đều muốn nhấn mạnh đến hai chân lý nền tảng sau: (i) Người với vũ trụ cùng chung một cơ cấu; (ii) Người làm chủ cơ cấu, nên cũng có tên là “vũ trụ chi tâm” để nói lên nhân chủ tính một cách huy hoàng. Vì thế ngũ hành không còn là ngũ tố vật chất đứng ngoài con người mà liên hệ đến con người một cơ thẻ, nên nói người là khởi đoan của ngũ hành, cũng như là trung tâm của vũ trụ. Tiên Nho đặt các hành liên hệ với đặc tính con người là Đông minh triết, Nam nhân hậu, Tây công minh, Bắc tàng trữ” [43]. Tuy nhiên, cũng theo Kim Định:

Vì sự xếp đặt thành cơ cấu và do đó liên hệ với vũ trụ nên ngũ hành đã đựơc dùng nhiều nhất vào ma thuật pháp môn. Còn phía hàn lâm biến ngũ hành thành một thứ trò chơi son đẹt ở tại xếp đặt các số hình vuông ít có chở theo đạo lý, vì thế bị nhiều học giả đời sau coi khinh [43].

Một trong nhiều lý do, “các học giả không muốn ngó ngàng tới ngũ hành, vì có tất cả 4 thứ tự lận” [43]:

  • Kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ.
  • Thuỷ, hỏa, mộc, kim, thổ.
  • Kim, thuỷ, mộc, hỏa, thổ.
  • Thuỷ, hỏa, kim, mộc, thổ.

Nhận xét của Kim Định về ngũ hành cũng là nhận xét của Hồ Thích. Trong cuốn Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương, ông viết:

Tôi cho rằng những Hà Đồ, Lạc thư, Sấm vĩ, Tiên thiên, Thái cực… đều là những thuyết sai lầm [44].

MỘT SỐ MÂU THUẪN CỦA NGŨ HÀNH

Nói Hà Đồ, Lạc thư, Sấm vĩ, Tiên thiên, Thái cực là những thuyết sai lầm thì chưa hoàn toàn chính xác. Phải nói là nhảm nhí mới đúng vì những lối lý luận rất ấu trĩ, và những mâu thuẫn khó có thể nuốt trôi được. Vài thí dụ về những mâu thuẫn của ngũ hành.

Trước hết là cho mỗi hành thuộc về một hướng, thí dụ, Thủy thuộc Bắc, Hỏa thuộc Nam. Vấn đề là căn cứ vào đâu để xác định Đông, Tây, Nam, Bắc? Và căn cứ vào đâu để xác định từ đây đến kia là Nam, và từ kia đến đó là Bắc? Lại còn trung tâm. Đâu là giới hạn của trung tâm? Thuyết ngũ hành do Trâu Diễn đề xướng trong thế kỷ thứ 4 TCN,[24].  khi người Hoa tin trời tròn, đất vuông nên mới có Đông, Tây, Nam, Bắc. Với trái đất hình cầu, Đông, Tây, Nam, Bắc chỉ là tương đối. Mỹ so với Trung Quốc là Đông, nhưng theo qui ước, Mỹ là Tây, Trung Quốc là Đông. Mà nếu lấy bắc cực làm tâm điểm, các nơi khác đều là Nam. Và nếu lấy nam cực là trung tâm, các nơi khác đều là Bắc. Đó là mâu thuẫn lớn nhất.

Mâu thuẫn thứ hai, tuy hành Thổ ở trung cung (Hình 11), người nào học qua Tử Vi, bói toán đều được dạy là bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi – gọi là tứ mộ – đều thuộc Thổ. Nhưng Thìn, theo Tử Vi, thuộc về Đông Nam; Tuất thuộc Tây Bắc; Sửu thuộc Đông Bắc; Mùi thuộc Tây Nam.

Mâu thuẫn thứ ba, cho mỗi mùa một hành cũng vô lý. Xuân, Hạ, Thu và Đông là những thời gian khác nhau trong một năm. Chúng không thuộc không gian nên nói Xuân thuộc về hướng Đông; Hạ thuộc hướng Nam là lẫn lộn không gian với thời gian. Có chỗ nào trên trái đất này là mùa Xuân không? Nếu nói, “Tôi muốn đến chơi mùa Xuân,” mọi người sẽ nói tôi điên. Điều này dẫn đến một mâu thuẫn khác.

Theo ngũ hành tương sinh, Mộc thuộc Đông sinh ra Hỏa thuộc Nam. Điều này chưa hề xảy ra trong thực tế vì chẳng khác một cô gái nói cô ở Á Châu mà con của cô sinh ra ở Âu Châu, mặc dù cô ấy chưa hề đến Âu Châu. Có thể khoa học thời đó tiến bộ nên khi cô có thai, bác sĩ lấy thai của cô rồi bỏ vào bụng người khác rồi người ấy qua Âu Châu sinh chăng? Tương tự như thế. Kim ở Tây mà khắc Mộc ở Đông. Thật là nhảm nhí. Nếu nói Mộc là gỗ, còn Kim là sắt, thì sắt có thể cắt được gỗ. Điều này chấp nhận được. Nhưng nói gỗ ở phương Đông, còn sắt ở phương Tây là có vấn đề. Hơn nữa, Kim ở phương Tây mà khắc Mộc ở phương Đông. Thế thì gỗ (Mộc) không tốt, không mọc được ở phương Tây sao?

Vớ vẩn nhất là hành Thổ; một Nho gia viết, “Hành Thổ ở Trung cung là căn cơ và là cùng đích cho muôn vật. Chữ Thổ đây không nên hiểu là đất thường, mà nên hiểu là căn cơ, hay bản chất vạn vật” [42].  Thổ là căn cơ, là bản chất của vạn vật. Nhưng Hỏa sinh Thổ, tức là Thổ chưa phải căn cơ, chưa phải bản chất của vạn vật. Hỏa mới là căn cơ vì Hỏa sinh Thổ. Mà vì Mộc sinh Hỏa nên Mộc mới là căn cơ, mới là bản chất của vạn vật. Vòng luẩn quẩn cứ tiếp diễn đến vô tận. Nho gia có rất nhiều câu nói trống rỗng, vô nghĩa nhưng rất ồn ào như vậy.

Một Nho gia khác cũng nói về hành Thổ với những lời trống rỗng và vô nghĩa như vậy. Ông nói rằng nhiều học giả Tây phương cho rằng Thổ kém bốn hành kia vì Thổ là hành vô phương, vô địa. Nhưng sự tuyệt vời của Thổ được ngự trung cung để chỉ con người Đại ngã, vì thế nó không có đối đáp như hai cặp thuỷ hỏa, kim mộc, trái lại được biểu thị bằng thập tự nhai, với hai nét ngang và dọc (Hình 11), để nhấn mạnh vai trò quan trọng của con người, hoặc là chữ nhất để chỉ sự bắt đầu cuộc diễn biến ngũ hành như quen nói ‘nhân giả ngũ hành chi đoan dã’: người là khởi đoan, là cội gốc của ngũ hành [43]. Câu hỏi đơn giản, con người Đại ngã là gì? Nó có phải vật chất không? Nếu là vật chất, nó phải chịu sự chi phối của quy luật sinh, khắc của ngũ hành, và rồi ngày nào đó nó sẽ chết và cuối cùng cát bụi sẽ trở về cát bụi. Mà nếu nó không phải vật chất, sao lại lấy vật chất (Thổ) để chỉ cái không thuộc vật chất? Hơn nữa, dựa vào đâu mà nói con người là cội gốc của ngũ hành? Và dựa vào đâu để nói vũ trụ và con người có cùng một cơ cấu? Dựa vào đâu để nói con người là trọng tâm của Ngũ Hành? Vì Nho giáo chỉ là cái học phụng sự quyền lực thế tục, là tay sai của bọn lãnh đạo, nó tồn tại đến ngày nay là đã quá tuổi thọ rồi. Chi tiết sẽ bàn thêm bên dưới. Cho nên, đúng như kết luận của Hồ Thích. Hà Đồ, Lạc thư, Sấm vĩ, Tiên thiên, Thái cực, Ngũ hành… đều là những thuyết sai lầm. Và từ những sai lầm đó dẫn đến nhiều sai lầm tai hại khác như địa lý, phong thủy. Ở Mỹ có nghĩa trang Rose Hills rất đắt tiền, thuộc thành phố Whittier, bang California. Có những miếng đất khoảng 9 mét vuông mà có miếng tới mấy triệu USD. Tôi có người bạn làm cò trong nghĩa trang đó. Anh nói cùng một miếng đất mà các thầy địa lý nói hoàn toàn khác nhau. Cũng may là ngày nay thiêu xác ngày càng thịnh hành nên sớm hay muộn các thầy địa lý sẽ thất nghiệp!

NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA NGŨ HÀNH

Mặc dù có một vị trí rất quan trọng đối với văn minh TQ, Ngũ Hành có những mâu thuẫn không thể chấp nhận được, đến nỗi các học giả đều coi khinh [43]. Có hai lý do. Một là Ngũ Hành, cũng như Âm Dương, do những đầu óc mê tín đặt ra vì như đã trình bày bên trên, có hơn 15 vạn giáp cốt văn từ đời nhà Thương đã được khai quật. Một số lượng lớn như thế là một bằng chứng người Hoa rất mê tín, dị đoan, và do đó tư duy của họ đều xoay quanh bói toán. Âm Dương, Ngũ Hành được đặt ra để phục vụ mục tiêu đó. Lý do thứ hai, ngũ hành là một sản phẩm của tây phương, không phải của Trung Quốc. Vì thế khi “mượn” của tây phương, người Hoa đã thay đổi để phục vụ cho mục đích mê tín, dị đoan của họ.

Bằng chứng về nguồn gốc tây phương của Ngũ Hành đã được Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê xác nhận, “Ấn Độ, Tây Tạng và nhiều phái Huyền học Âu Châu cũng chủ trương con người là tiểu vũ trụ và gồm Ngũ Hành như đại vũ trụ bên ngoài. Và họ hình dung con người như Hình 1.2.8” [42].  Nhưng theo Kim Định, Ấn Độ, Tây Tạng và nhiều phái Huyền học Âu Châu không có Ngũ Hành mà chỉ có bốn yếu tố – Đất, Nước, Gió và Lửa (Hình 1.2.9), nhưng sau đó được Aristotle thêm, yếu tố thứ năm là ether [43]. Theo Paul Carus, bốn yếu tố này được du nhập vào Trung Quốc qua những kinh điển của Phật Giáo. Tuy nhiên, khác biệt giữa Trung Quốc và các phái huyền học tây phương là mặc dù Trung Quốc dùng những biểu tượng của tây phương, ý nghĩa của ngũ hành lại theo quan điểm của Đạo gia [24]. 

Hình 12 mô tả kiến trúc với bốn yếu tố – Đất, Nước, Lửa và Gió. Bốn yếu tố từ trái qua phải: (i) Trung Quốc; (ii) Âu Châu; (iii) Bảo Tháp Phật Giáo; và (iv) Đài tưởng niệm [24]. Trong những kiến trúc đó thấp nhất là hình vuông, mang số 10 là Đất; kế tiếp là hình tròn, số 9 là Nước; kế tiếp là tam giác, số 2 là Lửa; kế tiếp là lưới liềm, số 6, là Gió. Yếu tố thứ năm tây phương gọi là ether, tượng trưng bằng hạt minh châu trên đỉnh. Năm yếu tố được dùng để dựng đài tưởng niệm người chết trong Tết Thanh Minh (Hình 14, bên phải).

Đất, Nước, Gió, Lửa cũng được dùng trong nhiều kiến trúc của Trung Quốc. Hình 1.2.10 mô tả cổng tam quan trong một chùa Phật Giáo ở Bắc Kinh; hình vuông trở thành mái cong (A) tượng trưng Đất; hình tròn (B) trở thành cái vòm bên trên mái, tượng trưng Nước; tam giác (C) với nhiều ngấn bên trên tượng trưng Lửa; lưỡi liềm (D) bên trên trở thành bông hoa, tượng trưng Gió; trên đỉnh là minh châu, tượng trưng ether.24


Hình 15 là bia đá Tây Tạng mô tả lưng con long mã mà Phục Hi theo đó mà lập ra bát quái. Bốn góc là bốn chân rùa. Trên là đầu. Dưới là đuôi. Chính giữa là Hồng Phạm Cửu Trù viết bằng Tạng ngữ (Hình 15). Hồng Phạm Cửu Trù là của Hạ Vũ đi trị thủy đến sông Lạc gặp một con rùa thần nổi lên, trên mai có nhiều vòng tròn đen trắng gọi là Lạc Thư, dựa vào đó mà Vũ làm ra 9 trù lớn, gọi là Hồng Phạm Cửu Trù rồi diễn giải và truyền lại cho đời sau. Hồng Phạm Cửu Trù có liên quan mật thiết với ngũ hành. Bên ngoài Hồng Phạm Cửu Trù là 12 con giáp. Các biểu tượng của ngày trong tuần là: mặt trời – Chủ nhật, lưỡi liềm – thứ hai; con mắt đỏ (sao Hỏa) – thứ ba; tay cầm đồng xu – thứ tư (Mercury- Thủy tinh); sét (Jupiter) – thứ năm; khóa – thứ Sáu (kim tinh- Venus); và bó hoa – thứ Bảy. Bên ngoài nữa là Hậu Thiên Bát Quái [24].

Ngũ hành cũng được dùng trong kiến thức lăng tẩm và mộ cho người chết. Hình 17 mô tả lăng tẩm kiến trúc theo ngũ hành [24]. Nó được xây dưới chân đồi để tránh những tạp khí có ảnh hưởng xấu tới xác chết. Hình 16 mô tả mộ của người Hoa theo kiến trúc hình móng ngựa để ngăn những yếu tố không tốt bên ngoài và được thiết kế theo Hình 17 [24]. Với những kiến trúc từ các hình từ 12 đến 17, nguồn gốc tây phương của Ngũ Hành đã được xác định.


NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA TỬ VI ĐẨU SỐ

Mặc dù Âm Dương và Ngũ Hành là những thuyết sai lầm như lời của Hồ Thích, chúng đã trở thành những sáo ngữ hàng ngày không ai không biết, nhờ những thần thoại rất hoang đường về Trần Đoàn, một đạo gia sống cuối đời Ngũ Đại, đầu đời Tống; ông được coi là tổ sư của Tử Vi Đẩu Số, một loại bói toán mà mọi trí thức TQ, Nhật, Hàn, Việt đều biết. Lúc tuổi đôi mươi tôi đã phí nhiều năm để học khoa học nhảm nhí đó. Kiến thức về Tử Vi cho thầy Tử Vi, tướng số một hào quang vì trong mọi bữa tiệc, họ được các thân hữu đặc biệt chú ý, nhất là các bà, các cô. Đó cũng là lý do khi còn trẻ tôi học đã bói Dịch, Tử vi, lục nhâm đại độn, Thái Ất… Sau này vì được huấn luyện về toán và nhiều năm làm việc trong các ngành khoa học, khi đi sâu vào các khoa bói toán, đặc biệt Tử Vi, chỗ nào tôi cũng thấy vô lý, mâu thuẫn, ngụy biện, phản khoa học. Những vấn đề của Tử Vi, thật ra, phần lớn là những vấn đề của Âm Dương và Ngũ Hành. Tử Vi cũng được nói là xây trên nền tảng của Kinh Dịch. Điều này khoác cho Tử Vi cái áo huyền bí, nhưng cho đến nay Kinh Dịch vẫn bị hiểu lầm (chương 1.1). Ngoài ra, một điều mà không một thầy Tử Vi nào thắc mắc vì tất cả đều học một cách từ chương như những con vẹt. Tử Vi chỉ căn cứ trên giờ, ngày, tháng và năm sinh mà không quan tâm đến vấn đề thời gian, địa lý, cũng như những yếu tố khác như văn hoá và tâm lý địa phương. Ngày nay. theo các nhà tâm lý, có hai yếu tố quyết định cuộc sống của mỗi người là thiên nhiên (nature) và môi trường (nurture). Về mặt thiên nhiên, con người sinh ra có thông minh, có đần độn, và nó quyết định cuộc đời của người đó. Nhưng nếu sinh ra trong một gia đình cha mẹ biết giáo dục, biết hướng dẫn con và có điều kiện tối thiểu để con ăn học, người con đó có nhiều khả năng thành công hơn trong gia đình nghèo, cha mẹ mù chữ. Đó là môi trường. Một thí dụ là cái học ở Mỹ. Vì phương pháp nhấn mạnh để hiểu hơn là nhớ, ở Mỹ chỉ cần thông minh trung bình và kiên nhẫn thì muốn học đến đâu cũng được. Tôi quen một gia đình toàn người khoa bảng. Trước 1975 ông chỉ là một nhân viên hàng không. Khi được bảo lãnh đi Mỹ năm 1988, ông đã hơn 50, nhưng chỉ hơn 10 sau ông và tất cả các con của ông đều thành tài. Ông lấy được tiến sĩ tại một đại học nổi tiếng, và trong 5 con của ông, ba người là bác sĩ, một dược sĩ, và một tiến sĩ. Dâu và rể của ông cũng thành công như vậy. Một thí dụ khác về người chị họ của tôi. Năm 1954, vì lý do cá nhân, ba của chị không theo vợ con vào Nam. Sau ngày thống nhất, ba chị vào Nam tìm họ. Khi nghe tin họ đã đi Mỹ, ông tìm đường vượt biên. Đến 1982 thì ông đoàn tụ với gia đình. Lúc đó khả năng Anh ngữ của ông coi như không có gì, và lúc đó ông đã gần 60. Thế mà tám năm sau ông lấy được thạc sĩ tin học tại California State University, Long Beach. Điều này chỉ có thể xảy ra ở Mỹ. Nói như thế không có nghĩa cái học của Mỹ là vô ích, không giá trị. Phần lớn những giải Nobel khoa học và kinh tế đều về tay người Mỹ; những phát minh quan trọng từ đầu thế kỷ 20 đến nay phần lớn đều xảy ra ở Mỹ. Phương pháp học của Mỹ là dạy học sinh cách làm việc, cách nghiên cứu, cách trình bày, chứ không theo cái học nhồi sọ vừa khó, và không những không làm được gì quan trọng, mà còn cho học sinh một sự kiêu hãnh quá đáng. Mấy người bạn tôi học bác sĩ đông y ở Mỹ nói sách giáo khoa (textbooks) đều do giáo sư Mỹ viết, còn sách của người Hoa viết chỉ được dùng làm sách tham khảo, vì họ viết rất khó hiểu, không theo một hệ thống, không có bất kỳ bố cục nào cả. Trên Facebook tôi thấy hình những người tốt nghiệp thạc sĩ mà sợ. Tiến sĩ ở Mỹ chỉ có luận văn là khác thạc sĩ và cử nhân. Các bạn tôi làm luận văn tiến sĩ chỉ có ba người cố vấn. Bảo vệ cũng có 3 người đó với khoảng 20 trang Powerpoint, và mất khoảng nửa tiếng là xong. Thạc sĩ thì nhiều trường không bắt làm luận văn. Lúc ra trường thạc sĩ toán, tôi phải chọn ba trong năm ngành toán để làm và mất khoảng một tiếng là xong. Một tuần sau tôi phải thi vấn đáp với ba giáo sư, mỗi người hỏi một câu, tổng cộng 20 phút. Học ở Mỹ học dễ lắm! Ai không tin có thể lên Google rồi tìm, “Harvard Hands Out A’s Like Candy,” sẽ biết. (Harvard là đại học danh tiếng nhất của Mỹ). Học dễ nhưng biết cách làm việc mới quan trọng. Đó là lý do học sinh cả thế giới đổ xô về Mỹ. Dù sao đi nữa, ở Mỹ có tiến sĩ không phải là chuyện kinh khủng. Khi ra lãnh bằng, họ gọi là COMMENCEMENT, nghĩa là mới bắt đầu! Bill Gates, Paul Allen, Steve Jobs, Larry Page, Mark Zuckenberg, Elon Musk… có tiến sĩ đâu!

Dĩ nhiên không phải ai ở Mỹ cũng thành công. Với mấy chục triệu người trong các cộng đồng người da đen và châu Mỹ la-tinh chen chúc trong chỉ hơn 500 ngàn lá số Tử Vi, những người có số tốt không phải ít. Thế mà trong những cộng đồng đó, số người thành công không nhiều. Vậy thì không thể dùng Tử Vi, mà phải dùng môi trường để giải thích. Và đó là bằng chứng rõ rệt nhất: Tử Vi là một khoa học vớ vẩn.

Vậy mà các thầy Tử Vi vẫn có cách để giải thích. Người bạn tôi có tiến sĩ hóa học. Ông khoe được gia truyền về Tử Vi và có thể đoán một cách chính xác giờ chết của một người. Sở thích của ông là sưu tầm Tử Vi của các tổng thống Mỹ. Ông đã giải thích cho tôi về Tử Vi của Abe Lincoln, George Bush, Bill và Hilary Clinton và Obama, và nói họ được làm tổng thống vì có sao này, sao kia… Nhưng hỏi vì sao cũng bằng đó số Tử Vi – khoảng hơn 500 ngàn – mà trong các cộng đồng da đen và la-tinh, số người thành đạt không nhiều so với các cộng đồng khác, ông không thể trả lời được. Các thầy Tử Vi không biết ngoài thiên nhiên, môi trường là một yếu tố quan trọng không kém trong đời của một người, nếu không nói là quan trọng hơn thiên nhiên. Một số thầy Tử Vi biết nhưng không có cách nào sửa đổi để Tử Vi thích ứng với thời gian. Lý do là vì không ai biết các chòm sao trong Tử Vi từ đâu mà có, và không biết căn cứ vào đâu để quyết định chúng thuộc hành nào trong Ngũ Hành. Và một điều quan trọng là họ không biết, Tử Vi được xây trên những nhảm nhí như Hà đồ, Lạc thư, Âm Dương, Ngũ Hành… mà họ gọi là Kinh Dịch. Nói cho cùng, Tử Vi là cách họ dùng để kiếm ăn nên phải bảo vệ nồi cơm, mặc dù biết là sai.

Ngoài ra, vì cứ 60 năm, gọi là lục tuần hoa giáp, những lá số Tử Vi lập lại như trước. Thí dụ, người sinh giờ Tý, ngày 1, tháng giêng, năm Giáp Thìn 1964 âm lịch, và người sinh giờ Tý, ngày 1, tháng giêng, năm Giáp Thìn 1904 âm lịch có cùng một lá số Tử Vi. Đó là một điều hoàn toàn vô lý. Tuy cả hai đều sinh năm Giáp Thìn, can và chi của giờ, ngày và tháng sinh của họ hoàn toàn khác nhau. Thế thì Tử Vi của hai người đó không khác nhau sao? Hơn nữa, như đã bàn trong chương 1.1, gán cho ngày, giờ, tháng và năm một can và một chi là một điều hoàn toàn mâu thuẫn với quẻ Địa Lôi Phục. Chu kỳ của can và chi là 60, trong khi Địa Lôi Phục nói, “thất nhật lại phục,” tức là cứ bảy ngày lập lại, không phải 60.

Đấy là chưa nói đến mỗi lá số Tử Vi có cả trăm sao, mỗi sao có một trong năm hành, bao quanh các sao đồng cung, xung chiếu, nhị hợp và tam hợp trong 12 cung, mỗi cung lại có một hành. Sự kiện này khó mà quyết đoán một cách chính xác sự tốt hay xấu của một số Tử Vi. Tôi có một người bạn từng làm chung một hãng gần 20 năm. Ông có thạc sĩ Toán tại California Polytechnics, Pomona và rất giỏi về Tử Vi. Ông có hai con gái và một trai. Trong ba đứa đó, con gái lớn là luật sư, hai đứa kia là bác sĩ y khoa. Ông từng nói với tôi, không một thầy Tử Vi nào đoán con của ông có thể thành tài vì số Tử Vi của chúng quá xấu. Khi tôi nói Tử Vi là một khoa học nhảm nhí, ông cảm thấy bị tổn thương vì kiến thức Tử Vi của ông từ nhiều năm nghiên cứu không thể vất bỏ một cách dễ dàng như thế. Tôi khuyên ông đọc Tử Vi Tổng Hợp của Nguyễn Phát Lộc. Theo đó Tử Vi của Việt Nam chỉ có 14 chính tinh, thuộc hai chòm Tử-Vi và Thiên Phủ, trong khi Tầu có 19 chính tinh. Ngoài hai chòm Tử-Vi và Thiên Phủ, Tử Vi của Tầu còn có Lộc Tồn, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, và Hừu Bật đều là chính tinh. Hơn nữa, Tử Vi của Tầu có nhiều sao hơn Tử Vi Việt. Giữa Tầu và Việt, tin ai? Cả hai đều sai!

Khi còn trẻ tôi rất tinh nghịch. Để thử tài một số thầy Tử Vi, tôi đưa số Tử Vi của các danh nhân thế giới để hỏi họ. Không thầy nào đoán giống thầy nào. Chỉ có một điều họ giống nhau là tất cả đều sai. Vì thế phần lớn các thầy đều có những thái độ quá khích, cuồng tín. Có lần tôi đến thăm một thầy Tử Vi rất nổi tiếng ở Huntington Beach, California. Sau lần đó tôi không bao giờ trở lại gặp ông nữa vì khám phá phương pháp rất bá đạo của ông để câu khách. Trong lúc chúng tôi nói chuyện, vài người đến nhờ ông coi. Trong khi ngồi chờ để ông tiếp khách, vô tình tôi khám phá kế hoạch rất tinh vi để thân chủ tin và làm ông nổi tiếng chẳng khác Quỷ Cốc Tử tái sinh. Đầu tiên là ông hỏi khách về giờ, ngày, tháng và năm sinh. Đó là bốn yếu tố cần và đủ để lập một số Tử Vi. Tuy nhiên, với ông, 4 yếu tố đó vẫn chưa đủ vì ngày, tháng và năm sinh có thể đúng, nhưng giờ sinh có thể sai. Để biết chắc giờ sinh, ông cần phải nhìn khoáy đầu của người đó để xác định bằng cách hỏi nếu sinh giờ này thì cha mẹ, anh em.v.v… sẽ phải thế này, không thì thế kia. Sau khi khách đã khai tất cả những yếu tố quan trọng và cần thiết về cuộc đời, việc làm, học vấn, tình trạng gia đình..v.v…, ông bắt đầu lấy số rồi thâu băng lại những lời tiên đoán của ông mà khách tự khai nhưng không biết. Sau lần đó tôi nhất quyết gạt bỏ những tà thuyết đó, một phần vì lúc đó tôi nghe được tiếng gọi của sư phụ để đi vào con đường tâm linh.

Hình 18 mô tả sự truyền bá chiêm tinh học tây phương đến TQ đã xảy ra qua hai ngã. Một ngã từ Ấn Độ đến TQ qua trung gian của cả Phật Giáo lẫn không Phật Giáo. Ngã thứ hai do các nhà truyền giáo của Ki Tô Giáo đến từ Syria. Kết quả của hai truyền thống này là Tử Vi Đẩu Số còn thịnh hành đến ngày nay.

CHIÊM TINH HỌC TỪ ẤN ĐỘ ĐẾN TQ

Sự truyền bá chiêm tinh tây phương đến TQ qua trung gian của Ấn Độ có thể thấy qua những tên gọi của những hành tinh mà những người Á Đông dùng hàng ngày nhưng không biết. Những tên gọi đó do các nhà sư Phật Giáo dịch từ chiêm tinh tây phương qua chữ Hán, rồi từ Hán qua Việt. Trong Bảng 2, những tên quen thuộc nhất, La Hầu và Kế Đô, là hai tên đặc biệt của Ấn Độ, không có trong chiêm tinh tây phương. Theo các thầy bói, mỗi lần gặp hạn La hầu, Kế đô, hay Thái bạch, khó mà tránh được tai bay, vạ gió; nếu gia đạo không sóng gió, tài chánh hay việc làm cũng bị xáo trộn, hoặc tai nạn sẽ xảy ra [45].

Bằng chứng nguồn gốc tây phương của Tử Vi có thể thấy trong Hình 19 chép từ Tinh Học Đại Thành (星學大成). Trước khi Tử Vi được Hán hóa, mỗi lá số Tử Vi đều có 12 chòm sao Hoàng Đạo.

Chiêm tinh tây phương truyền bá đến TQ ban đầu đã xảy ra qua trung gian Phật Giáo. Trong một số bài giảng, Phật khuyên các nhà sư tìm hiểu chiêm tinh cho những lý do thực tế, chẳng hạn, định ngày một cách chính xác để cứ hai tuần tụng giáo luật. Cao Tăng Truyện (高僧傳) cũng nói về các nhà sư từ Ấn Độ và Trung Á rất thông thạo chiêm tinh cũng giúp truyền bá khoa học này đến TQ. Nhiều bộ kinh cũng bàn nhiều về chiêm tinh, chẳng hạn, Ma Đăng Già Kinh và Xá Đầu Gián Thái Từ Nhị Thập Bát Túc Kinh (摩 登伽經/舍頭諫太子二十八宿經)mô tả nhị thập bát tú và tương quan của chúng với chiêm tinh học và cách tế sao, và phép tính mùa và thời gian của Ấn Độ. Ðại Trí Ðộ Luận (大智度論), của Long Thọ do Cưu-ma-la-thập dịch, bàn về bốn loại tháng trong năm:

Tây Vực Ky (西域記) của Huyền Trang cũng đề cập đến chiêm tinh tây phương truyền đến TQ do sự tiếp xúc của TQ với Phật Giáo. Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ thứ 8 mới có những tác phẩm quan trọng như Cửu Chấp Lịch (九執暦) của Cù Đàm Tất Đạt (瞿曇悉達= Gautama Siddha) sáng tác năm 718, và Túc Diệu Kinh (宿曜經) của Bất Không Kim Cang (Amoghavajra) và các đệ tử soạn từ năm 742 đến 764. Ngoài những kinh điển đã đóng góp cho chiêm tinh học TQ, còn có các tài liệu khác của Ấn Độ mà các nhà sư đã dùng có thể kể đến Thất Diệu Nhương Tai Quyết (七曜攘災決); Túc Diệu Kinh (宿曜經); Đô Lợi Duật Tư Kinh (都利聿斯經), Tây Thiên Duật Tư Kinh (西天聿斯經), gọi tắt là Duật Tư Kinh (聿斯經); Tinh Học Đại Thành (星學大成), Trúc Luật Nghiêm (竺律嚴), Chi Khiêm (支謙), Đại Tập Kinh (大集經), Lập Thế A Đàm Luận (立世阿毘曇 論), Bảo Tràng Phân (寶幢分), Nguyệt Tàng Phân (月藏分) [45].

Trong những bộ kinh nói trên, Duật Tư Kinh quan trọng nhất. Kể từ thế kỷ thứ 10, nó đã kích thích nhiều sáng tạo chiêm tinh khác, và chúng đều có những điểm chung như: mỗi lá số Tử Vi có 12 cung (Hình 18), và bầu trời với 12 cung bằng nhau (Hình 19). Và trong những sơ đồ Tử Vi qua nhiều thời đại (Hình 20), những tác phẩm về chiêm tinh của TQ chỉ dùng sơ đồ của Ấn Độ (số 8 trong Hình 20).

CHIÊM TINH HỌC TỪ TRUNG ĐÔNG ĐẾN TRUNG QUỐC

Một trong những lý do quan trọng mà các nhà sư Ấn Độ mang chiêm tinh đến TQ là cái-gọi-là phương tiện thiện sảo (skillful means). Là người, ít hay nhiều trong đời ai cũng tò mò muốn biết tương lai của mình. Với người Hoa, điều đó hoàn toàn đúng vì bản chất rất tin dị đoan của họ. Bằng chứng đó có thể thấy qua rất nhiều các khoa huyền bí như bói Dịch, Tử Vi, Tử Bình, Thái Ất, độn giáp, phong thủy, địa lý… và cả chục vạn giáp cốt văn dùng để bói toán từ đời Thương đã tìm được. Vì biết tâm lý mê bói toán đó, các nhà sư Ấn Độ đã dùng dùng những bộ kinh có đề cập đến chiêm tinh để họ đọc rồi nhân đó giới thiệu Phật pháp cho họ. Với phương pháp này các nhà sư đó đã hoàn toàn thành công. Chỉ một thời gian ngắn một biển người trong một vùng đất rộng mênh mông đã hoàn toàn quy phục Phật, Pháp, Tăng, kéo theo quy phục của người Nhật, người Hàn, người Việt, Mông Cổ và Tây Tạng. Những kiến thức chiêm tinh đó cũng làm cho người Hoa kính trọng Ấn Độ và gọi là Phạm (梵), thay vì man di mọi rợ (hồ 胡) như họ thường gọi các dân tộc khác [46].

Tuy nhiên, vì Phật Giáo không có chiêm tinh riêng mà phải dùng của người khác, kiến thức chiêm tinh trong những bộ kinh nói trên thường lỗi thời hoặc không chính xác. Để lấp đầy khoảng trống đó, họ đã phải dùng kiến thức chiêm tinh từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt là chiêm tinh Vệ đà (Vedic astrology), chẳng hạn Khải Nguyên Chiêm Kinh (开元占经), và Cửu chấp lịch (九執曆) của Cù Đàm Tất Đạt (Gautama Siddha). Ngoài ra, còn một nguồn chiêm tinh mà ít người nghe nói đến là giáo hội Cơ Đốc Syria. Họ đến TQ từ đầu nhà Đường từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 9 thì chấm dứt, khi Đường Vũ Tông bách hại các tôn giáo năm 845 SCN. Cũng như các nhóm ngoại kiều khác đến TQ, kiến thức của họ về khoa học, đặc biệt là kiến thức chiêm tinh, luôn luôn được người Hoa ưa chuộng. Vết tích của họ tại TQ được các học giả quan tâm nhiều nhất là bia đá Tây An, Đại Tần Cảnh Giáo Lưu Hành Trung Quốc Bi Ca Tinh Tự (大秦景教流行中国碑颂并序). Trong bia có 1756 chữ Hán và 70 chữ Syria, ghi lại các hoạt động truyền giáo của họ từ năm 635 đến cuối thế kỷ thứ 8, và gọi đạo của họ là Cảnh Giáo (景教), từ Ba Tư đến [45].

Điểm nổi bật trong bia là cách họ ghi thời gian. Đầu tiên là niên hiệu của triều đại, theo sau bởi chu kỳ 12 năm của sao Mộc (Jupiter), tháng và ngày âm lịch, cuối cùng là ngày lập bia (4 tháng 2, năm 781 SCN), gọi là Đại Diệu Sâm Văn Nhật (大耀森文日). Phía bên có chữ Syria họ ghi hàng chữ, “basnath alep w’thes’in w’tharthen” d’Iaounaie, nghĩa là “năm Hy Lạp 1092.” (Hình 22).

Ngoài Tây An bia, một tài liệu chiêm tinh khác và quan trọng nhất là Duật Tư Kinh (聿斯經), không biết từ nguyên ngữ nào, được dịch qua Trung văn trong thế kỷ thứ tám. Theo tài liệu chính thức của nhà Đường, Tân Đường Thư (新唐書), Duật Tư kinh là một tài liệu dạy cách lấy tử vi căn cứ theo tác phẩm thiên văn học Tetrabiblos của Ptolemy, do một người Ba Tư, thuộc nhóm Cơ Đốc Syria, mang đến. Duật Tư Kinh có một bản rút gọn là Tây Thiên Duật Tư (西天聿斯). Khi Bill M. Mak nghiên cứu Tây Thiên Duật tư, ông thấy nó không giống Tetrabiblos của Ptolemy, mà rất giống Carmen Astrologicum của Dorotheus. Tác phẩm này đã được dịch sang Anh ngữ và có thể mua qua Amazon [47]. Tài liệu này không bàn về triết lý của Tử Vi, mà nói về cách để chấm Tử Vi. Nó cũng có những yếu tố tối cần để giải đoán Tử Vi như: phú Tử Vi, 12 cung, tam hợp và xung chiếu. Hình 22 là một số Tử Vi thế kỷ theo Hy Lạp trong Chánh Thống Đạo giáo (正统道藏), và Tử Vi Đẩu Số (紫微斗数).

Duật Tư kinh chỉ thịnh hành trong một thời gian ngắn ở Trung Quốc, trong khi ở Nhật, nó vẫn được dùng để đoán tử vi cho đến thế kỷ 13, sau khi các nhà sư đưa vào Nhật trong thế kỷ thứ 9. Ở Trung Quốc không ai nhớ đến nó nữa, nhưng nội dung của nó đã được các Đạo gia tiếp thu, cùng với nhiều tác phẩm bói toán một thời rất nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Nhưng cái còn sót lại chính là Tử Vi đẩu số (Hình 22). Ngoài 12 cung, nó không dùng các sao chiêm tinh nữa. Vị trí của các sao Tử Vi hoàn toàn tùy thuộc năm, tháng, ngày và giờ sinh, gọi là Tứ Trụ Mệnh Lí (四柱命理). Với tứ trụ mệnh lí, Tử Vi đã mất hẳn ảnh hưởng của Hy Lạp và hoàn toàn xây trên Âm Dương, Ngũ Hành với những nhảm nhí như Hà Đồ và Lạc Thư mà họ gọi là Kinh Dịch. Tuy nhiên, như đã bàn bên trên, vì chỉ tùy thuộc năm, tháng, ngày và giờ sinh, Tử Vi không hề có bất kỳ nền tảng triết lý nào cả. Không ai biết các sao Tử Vi từ đâu mà có. Chúng lại bị chi phối bởi Âm Dương và Ngũ Hành, vốn là những học thuyết đầy mâu thuẫn, và chúng dùng 12 con giáp làm sân khấu để diễn những vở kịch của một đạo diễn đầy mê tín nhưng thiếu sáng tạo, bởi vì 12 con giáp cũng là một sản phẩm của tây phương.


NGUỒN GỐC TÂY PHƯƠNG CỦA 12 CON GIÁP

Trong những yếu tố văn hoá của Trung Quốc có gốc từ tây phương, 12 con giáp nổi bật nhất vì đó là “một vòng tròn các động vật.” Đó là cụm từ dịch từ chữ zodiakos (ζωδιακός) của Hy Lạp, gọi tắt là Hoàng Đạo, để chỉ các chòm sao cố định trên đường mặt trời đi qua hàng năm (ecliptic). Zodiakos là chữ Hy Lạp có gốc từ chữ zo-on, nghĩa là “một con vật.” Sự kiện này hoàn toàn phù hợp với 12 con giáp của Trung Quốc, hơn là tây phương. Trong khi tên của 12 chòm sao tây phương có 4 chòm không phải con vật là: Xử nữ (Virgo), Thiên Bình (Libra), Song Nam (Gemini) và Bảo Bình (Aquarius); 12 con giáp của TQ hoàn toàn là động vật.

Thật ra, theo các nhà khoa học, có tất cả 88 chòm sao bao quanh trái đất, và ngay từ thời Ptolemy, con người đã biết có 48 chòm. Hơn nữa, trên đường mặt trời đi qua hàng năm, có tất cả 13 chòm sao, nhưng các nhà chiêm tinh cổ đại chỉ dùng 12 chòm [48]. Thế thì 12 chòm sao chỉ là biểu tượng, không nhất thiết là những chòm sao trên đường Hoàng Đạo. Vì thế các nhà chiêm tinh cổ đại đã ghép những con vật với các chòm sao chỉ là những biểu tượng để chỉ đặc tính và cường độ của năng lượng mặt trời, khi nó nằm tại khu vực nào đó trong vòng Hoàng Đạo. Richard Payne Knight viết về các con vật trên vòng Hoàng Đạo như sau:

Ý nghĩa tượng trưng mà con vật nào đó đã được sử dụng để biểu thị, chỉ là một số tính chất cụ thể, và, do đó, có thể dễ dàng được gợi ý bởi các hoạt động tự nhiên của tâm trí, nhưng các chòm sao, được đặt theo tên một loài thú nào đó, không có liên quan gì với động vật đó cả; chúng chỉ đơn thuần là dấu hiệu dùng để phân biệt các phần nhất định của các tầng trời, và chúng có một ý nghĩa quan trọng nào đó [49, 50].

Như vậy, ý nghĩa của các con vật của chiêm tinh tây phương đã được xác định rõ ràng. Với Trung Quốc, 12 con giáp chỉ là một huyền thoại, không liên quan gì với sự chuyển động quanh năm của mặt trời. Huyền thoại này được kể bằng nhiều cách với ít nhiều chi tiết khác nhau. Một số người nói rằng trong ngày sinh nhật của mình, Hoàng đế bảo các động vật chạy đua để tạo ra 12 con giáp. Người khác nói đó là Phật. Tuy nhiên, về cơ bản cả hai câu chuyện đều giống nhau, ngoại trừ một số chi tiết nhỏ. Trong thần thoại này, khác với 12 con giáp của Việt Nam, mèo không được chọn và đã xảy ra như sau [51].

Các động vật phải qua một cuộc đua, và 12 con về trước sẽ được chọn. Chúng phải vượt qua một dòng nước chảy mạnh và phải lên được bờ.

Trước hết là mèo và chuột. Lúc đầu chúng rất thân nhau, lại không biết bơi nhưng rất thông minh. Chúng nhận ra cách duy nhất để qua sông là nhảy lên đầu trâu. Với bản chất hiền lành, trâu đồng ý mang chúng qua sông. Vì muốn thắng bằng mọi cách, khi tới gần bờ, chuột đẩy mèo xuống sông. Từ đó về sau mèo rất thù chuột vì tại nó mà mèo bị loại. Khi trâu và chuột vừa tời bờ, chuột nhảy lên trước trâu và dẫn đầu cuộc đua. Trâu đứng thứ hai; hổ kết thúc ở vị trí thứ ba.

Đột nhiên một tiếng động lớn vang lên: đó là thỏ. Nó nhảy từ hòn đá này sang hòn khác rồi bị trượt chân. Nhưng nó may mắn nắm được khúc gỗ đang trôi và kết thúc với vị trí thứ 4. Thứ năm là rồng. Vì nghĩ nó có thể bay nên không gấp; nó dừng lại một vài lần để giúp một số dân làng. Và khi gần tới đích, nó thấy con thỏ sắp chết đuối nên phải giúp lên bờ. Khi rồng lên bờ, ngựa sắp sửa phóng tới đích thì rắn xuất hiện làm nó hoảng sợ. Lợi dụng cơ hội này rắn dành được vị trí thứ sáu; ngựa thứ bảy.

Ngay sau đó, khỉ, gà và dê đã lên bờ. Không giống các con vật trước đây, ba đồng chí này đã giúp nhau để đến đích. Gà thấy một chiếc bè cùng với khỉ và dê nhảy lên. Dê đứng thứ tám, khỉ thứ chín, gà thứ mười. Mười một là chó. Khi cuộc đua sắp kết thúc, với một âm thanh chói tai “ủn,” heo xuất hiện. Trong lúc đang đua, heo cảm thấy đói nên dừng lại, ăn một ít rồi thiếp đi. Sau khi tỉnh dậy, nó đã lên bờ với vị trí thứ mười hai. Vì thế mới có câu, “con heo lười biếng.”

Theo thói quen xưa nay của TQ, khi gặp những trường hợp không thể giải thích được, họ phịa ra những thần thoại để dấu một sự thật là họ không biết. Thí dụ, vì không giải thích được cấu trúc của Kinh Dịch, họ phịa ra chuyện Phục Hi thấy con long mã trên lưng có 8 vằn ở sông Lạc nên mới lập ra bát quái. Mười hai con giáp này cũng thế. Mặc dù họ đã có thể lừa được nhân loại từ nhiều ngàn năm qua, vài chi tiết quan trọng thần thoại này không giải thích được.

Trước hết, vì sao chỉ có 12 con mà không phải một con số nào khác? Cũng như chiêm tinh tây phương. Tuy có 13 chòm sao Hoàng Đạo nhưng chỉ dùng 12. Thế thì phải có một quy luật nào đó để xác định phải là 12, không phải bất kỳ con số nào khác. Quy luật đó sẽ được trình bày trong chương 3.3 để giải thích cơ cấu của Tarot. Trong trường hợp 12 con giáp, thần thoại không phải quy luật.

Vấn đề thứ hai. Thần thoại này không giải thích được vì sao 12 con giáp này được chia làm hai nhóm. Từ Dần đến Thân là thú rừng, và từ Dậu đến Sửu là thú nhà. Hơn nữa, cho đến nay vẫn chưa có một giải thích nào hợp lý về liên hệ của mỗi con giáp đối với tất cả 12 con khác, mặc dù đã có những giải thích từng con một theo lẽ âm dương. Chương 3.3 sẽ giải thích tương quan của 12 con giáp với nhau.

Vấn đề thứ ba có tính triết học. Mười hai con giáp có hai nhóm. Từ Dần đến Thân là thú rừng, và từ Dậu đến Sửu là thú nhà. Thế mà thần thoại này nói rằng một chu kỳ mới bắt đầu tại Tý và kết thúc tại Hợi. Vấn đề là ở chỗ đó. Vì lý do gì một chu kỳ mới lại bắt đầu tại giữa hai con thú nhà? Người xưa chia 12 con giáp ra hai loại thú rừng và thú nhà phải có lý do. Theo triết lý Tarot sẽ được trình bày trong chương 3.3, mỗi chu kỳ được chia là hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn phát triển bao giờ cũng tàn bạo, mãnh liệt, bất chấp lý lẽ, chẳng quan tâm đến vấn đề luân lý, đạo đức. Đó là quy luật mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé. Điều này có thể thấy trong giai đoạn đầu của mọi cuộc cách mạng trong lịch sử của nhân loại. Vì thế giai đoạn phát triển được biểu tượng hóa bằng những con thú rừng, từ Dần đến Thân. Khi sự phát triển đã lên cực điểm, mọi chướng ngại đã được chinh phục, mọi chống đối đã được san bằng, những thế lực thù nghịch đã bị dẹp tan, tâm lý con người bắt đầu thay đổi, bắt đầu thư giãn hơn và mở đầu cho giai đoạn hai. Lúc này con người bắt đầu đặt ra những luật lệ để có thể sống thoải mái hơn. Giai đoạn suy vi bắt đầu xảy ra và được biểu tượng hóa bởi những con thú nhà, từ Dậu đến Sửu. Những quy luật này sẽ được giải thích chi tiết hơn trong chương khác. Mười hai con giáp chính là một chu kỳ biện chứng gồm 12 giai đoạn, bắt đầu tại Dần, không phải tại Tý, và kết thúc tại Sửu.

Thứ tư và cuối cùng. Thần thoại này không giải thích được tương quan giữa các con vật. Nói cách khác. Nó không thể giải thích được vì sao có 4 nhóm tam hợp: (a) Dần-Ngọ-Tuất, (b) Hợi-Mão-Mùi, (c) Tị-Dậu-Sửu, và (d) Thân-Tý-Thìn. Bốn nhóm tam hợp này chiêm tinh tây phương gọi là bốn hỗn hợp gồm 3 tính chất (attributes) và 4 yếu tố (elements), tất cả là 12=3×4. Chi tiết này sẽ được giải thích trong chương khác.

Với bốn vấn đề nói trên của 12 con giáp, chỉ có một giải thích hợp lý nhất là chúng không phải của TQ, bởi vì thần thoại đó không thể giải thích được những câu hỏi đó.

Vậy thì 12 con giáp này từ đâu mà có, và chúng có liên hệ gì với 12 chòm sao Hoàng đạo của Babylon?

Câu hỏi này đã được Franz Boll trả lời trong cuốn Sphaera xuất bản năm 1903 [53]. Trong thuyết trình trước Đại hội Quốc tế về Đông phương học tại Athens, tháng 4, 1912, Boll đã đưa ra bằng chứng về nguồn gốc tây phương của chiêm tinh Trung Quốc. Ông tin rằng liên hệ giữa Trung Quốc và phương Tây dẫn đến sự lan rộng của chiêm tinh tây phương qua TQ trong những thế kỷ trước thời đại chúng ta [53]. Những liên hệ giữa đó đã xảy ra khi Nakhunte, cũng được gọi là Hoàng Đế, đã lãnh đạo bộ tộc Bak đến định cư tại đồng bằng Hoàng Hà.^2 Một nhóm khác là Hyksos. Khi bị trục xuất khỏi Ai Cập, một nhóm của Hyksos đã về định cư tại Lưỡng Hà, và nhóm nhỏ khác đã dùng thuyền đến được miền đông TQ. Điều này đã được trình bày trong phần đầu của chương này.

Trong thuyết trình nói trên tại Athens, Boll đã bàn về hệ thống Dodekaoros cổ đại, bao gồm một vòng tròn 12 con vật, chữ Hy Lạp là zodiakos. Đó là tài liệu cổ nhất về hệ thống này do Teucer người Babylon viết khoảng thế kỷ thứ nhất SCN. Mười hai con vật của Babylon và Ai Cập là 12 phần của đường xích đạo. Chúng được coi là xuất hiện cùng với những chòm sao Hoàng Đạo, và được dùng để chia mỗi ngày ra thành 12 phần, mỗi phần hai tiếng. Đó là điều truyền thống lâu đời của Trung Quốc, và các khoa bói toán, Tử Vi của Trung Quốc cho đến nay vẫn dùng. Theo Boll, tên của 12 con vật theo hệ thống Dodekaoros thay đổi tùy theo các quốc gia, có tên tương đương với 12 chòm sao của Babylon như sau (Bảng 3):

Theo Bảng 3, mười hai con giáp của Trung Quốc chính là những con vật trong cột thứ ba. Hệ thống Dodekaoros cũng được khắc trong bảng đồng thời La Mã, Ai Cập (Hình 23). Chính giữa hình là thần Apollo với mặt trời trên đầu, và thần Phoebe trên đầu có trăng lưỡi liềm. Kế tiếp là vòng tròn 12 con vật theo hệ thống Dodekaoros gồm Mèo; Chó; Rắn; Bọ hung; lừa; Sư tử; Dê; Bò; Chim ưng; Vượn; Cò và Cá sấu. Vòng tròn bên ngoài là 12 cung Hoàng đạo tương ứng với mười hai con vật trong vòng trong, gồm có Aries; Taurus; Gemini; Cancer; Leo; Virgo; Libra; Scorpio; Sagittarius; Capricorn; Aquarius; và Pisces.54

Liên hệ giữa hệ thống Dodekaoros cùng bảng đồng La Mã, Ai Cập (Hình 23) với 12 con giáp của TQ đã được khảo cổ xác nhận. Trong cuộc khai quật năm 1971 tại làng Xuân Hứa (Xuanhua), tỉnh Hồ Bắc, các nhà khảo cổ đã khám phá nhiều ngôi mộ có rất nhiều tranh trên tường và trên trần, đặc biệt là trong ba mộ M1, M2 và M5. Trên trần mộ M1 có tranh với 28 sao ở giữa xếp theo hình hoa sen (thay vì thần Apollo và Phoebe), bên ngoài là 12 chòm sao của Babylon. Ngoài cùng là 12 con giáp của Trung Quốc (Hình 24). Mộ M2 và M5 cũng có những hình tương tự Hình 24 [55]. Với sự tương đồng giữa Hình 23 và Hình 24, đồng thời với khám phá của Franz Boll, 12 con giáp của Trung Quốc chính là mười hai con vật theo hệ thống Dodekaoros với vài thay đổi nhỏ. Ngoài ra, nhiều tranh trên tường về những chòm sao Hoàng Đạo cũng đã được khai quật. Hình 25 mô tả Xử nữ với hai người nữ tìm được trong mộ 66, tại Đôn Hoàng. Đó là ấn bản của TQ về Virgo (Xử nữ).

Liên hệ giữa chiêm tinh tây phương và 12 con giáp cũng có thể thấy qua 12 bộ phận của con người. Hình 26 mô tả 12 con giáp và các bộ phận tương ứng của TQ. Hình 27 mô tả 12 chòm sao chiêm tinh với 12 bộ phận trong người của Âu châu.

Với những bằng chứng nói trên, nguồn gốc tây phương của 12 con giáp không còn gì để nghi ngờ nữa. Điều này trang mạng của viện Phong Thủy hoàn toàn đồng ý:

Người ta tin rằng chiêm tinh học của Trung Quốc đã được chuyển từ văn hoá Sumerian và Babylon sang Trung Quốc gần 5.000 năm trước. Chiêm tinh học ban đầu chỉ hoàng đế được dùng trong trách nhiệm về hòa bình và hòa hợp trong vương quốc. Để củng cố sự cai trị và thẩm quyền, ông cần thông tin chính xác từ các chiêm tinh gia.

Đầu tiên chiêm tinh được gọi là “Năm cung” hay “Năm hành tinh” căn cứ trên năm hành tinh: Thủy tinh, Kim tinh, Mộc tinh, Thổ tinh và Hỏa tinh. Sau này mặt trời và mặt trăng được vào thành bảy sao, làm nền tảng cho nhị thập bát tú [57].

Bảy sao trong trang mạng đó chính là tên những ngôi sao các nhà sư Ấn Độ dịch từ chiêm tinh tây phương (Bảng 3). Một cách gián tiếp, trang mạng của viện Phong Thủy cũng xác nhận 12 con giáp cũng là một sáng tác của Babylon, nhưng vì không hiểu TQ mới phải dựng đứng lên huyền thoại Hoàng Đế tổ chức cuộc thi để tuyển 12 con vật cho 12 con giáp. Mười hai con giáp của TQ cũng có gốc từ tây phương.

Ngoài những tài liệu nói trên, bác cáo của John Steel, giáo sư đại học Durham, cũng chứng minh liên hệ không thể lầm lẫn của chiêm tinh Trung Quốc với chiêm tinh Babylon [58]. Đồng thời Niên Đại Chiêm Tinh Phương Tây truyền qua Đông Á đã được David Pingree xác nhận [59]. Vậy thì truyền thuyết nói Trần Đoàn là người sáng lập Tử Vi Đẩu Số cũng chỉ là thói quen đổi trắng thay đen của Trung Quốc. Nó cũng chứng minh ngoài cái tài ăn cắp rồi sửa đổi; Trung Quốc không có gì nguyên thủy cả.


NGUỒN GỐC SUMER CỦA CAN, CHI

Nói đến Ngũ hành, Tử Vi Đẩu Số, và Thập nhị địa chi mà Thập thiên căn là một thiếu sót lớn trong văn minh TQ. Nguồn gốc Sumer của Ngũ hành. Văn minh Sumer (khoảng 4000-2500 TCN) lấy số 60 làm gốc. Phương pháp đếm từ 1 đến 60 diễn ra như sau (Hình 28):

  • Lấy ngón cái phải, bắt đầu từ đốt thứ 3 ngón trỏ là 1, đến đốt thứ 3 ngón út là 12
  • Giơ ngon út trái lên là 12;
  • Tiếp tục như đoạn 1;
  • Khi tay phải đến 12, giơ ngón áp út trái lên là 24;
  • Tiếp tục như đoạn 1;
  • Khi tay phải đến 12, giơ ngón giữa lên là 36;
  • Rồi ngón trỏ trái là 48
  • Ngón cái trái là 60

Phương pháp đếm nay có thể dùng làm tính cộng, tính trừ và tính nhân, nhưng không làm được tính chia vì Sumer không có số zero. Đó là bí mật của bàn tính Abacus của Trung Quốc (Hình 29). Dạng nguyên thủy của nó là sỏi trên cát (Hình 30).


LỤC TUẦN HOA GIÁP

Hệ thống 60 có thể áp dụng vào cái gọi là “lục tuần hoa giáp” của Trung Quốc. Năm ngón phải tương đương Ngũ hành, còn 12 đốt tay phải là 12 con giáp, tức là 60 = 5 x12. Tuy nhiên, Trung Quốc muốn giấu nguồn gốc Sumer của ngũ hành và “lục tuần hoa giáp” bằng cách gọi ngũ hành là năm hành tinh, vì chữ “hành” nghĩa là “di chuyển,” và “hành tinh” viết tắt là “hành.” Ngũ hành gồm các sao Kim, Thủy, Hỏa, Mộc và Hỏa. Năm sao xoay trên 12 con giáp là 60 (60=5×12). Nhưng vì muốn khoác lên lục tuần hoa giáp một nét huyền bí, TQ đặt ra Thập thiên căn, tức là 10 rễ trời (căn, chữ Hán, nghĩa là “rễ”; nhiều người hiểu lầm “căn” là “can”), gồm có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Mười rễ trời này trổ ra 12 cành, gọi là Thập nhị địa chi, gồm có Dần Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mười hai cành, hay 12 chi, thường được gọi là 12 con giáp.

Mười rễ trời, hay thiên căn trổ ra 12 cành, hay địa chi, tức là vũ trụ có trung tâm. Điều này phản khoa học, vì vũ trụ không có trung tâm nào cả. Nói cách khác, mọi điểm trong vũ trụ đều là trung tâm, vì tại mỗi điểm, bán kính từ điểm đó ra mọi hướng đều là vô hạn.
Tuy nhiên, mục đích của Thập thiên căn và Thập nhị địa chi là để có lục tuần hoa giáp và cứ hai căn một hành (Bảng 6):

Bảng 7 liệt kê Lục tuần hoa giáp theo Ngũ hành gồm có Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.

Trong bảng Lục tuần hoa giáp có khá nhiều vấn đề chưa hề được đặt ra. Trước hết, hành của Lục thập hoa giáp không biết từ đâu mà có. Thí dụ, Tí thuộc Thủy, nhưng Giáp Tí thuộc Kim – Kim sinh Thủy; và Thân thuộc Kim, nhưng Giáp Thân thuộc Thủy – Thủy không sinh Kim. Thế thì hành của địa chi có thể bị thiên can thay đổi? Và những năm Can sinh Chi tốt hay xấu? Đã có ai làm thống kê về những năm của Lục thập hoa giáp. Hai là trong lịch sử nhiều ngàn năm mà dùng chu kỳ 60 năm thì phân biệt cách nào?


LỊCH CỦA TRUNG QUỐC

Lịch là một yếu tố khác của TQ có nguồn gốc từ tây phương. Mặc dù TQ dùng 28 sao, gọi là nhị thập bát tú, nhiều dấu vết tây phương có thể thấy qua những sao đó. Trước hết là các điểm ban đầu trên đường Hoàng Đạo của Trung Quốc và Ấn Độ hoàn toàn ngược chiều nhau. Điều này chỉ có thể xảy ra vì cả hai xuất phát từ một nguồn tài liệu chung [71].

Kế tiếp là sao Hư trong chòm sao Bảo Bình. Hư là hư không, hư vô. Đối với các nền văn minh TQ, Mesopotamia và Do Thái, Hư được dùng để đánh dấu năm mới. Hư chính là nữ thần Bau hay Bahu của Do Thái. Trong sách Sáng Thế Ký 1:2, Bau được dịch là hư không [71].

Quan trọng hơn hết là vì căn cứ vào nhị thập bát tú để xác định chiều dài của năm, từ nhiều ngàn năm lịch của TQ sai mà họ không biết cách nào để sửa. Điều này phải nhờ đến các giáo sĩ dòng Tên (Jesuits). Năm 1600 giáo sĩ Matteo Ricci và nhóm người của ông được phép định cư ở Bắc Kinh để dạy hoàng gia toán học và các khoa học khác của tây phương. Năm 1610, giáo sĩ Johann Adam von Schall được gửi đến Bắc Kinh vì kiến thức về toán học và thiên văn của ông. Khi đến Bắc Kinh, ông được triều đình mời làm giám đốc công trình cải cách lịch của TQ. Lịch Vạn Niên của TQ từ 1624 đến 1924 chính là công của Johann Adam von Schall. Kể từ đó hệ thống nhị thập bát tú hoàn toàn bị huỷ bỏ [55, 71].


NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ, TÔN GIÁO VÀ TÂM LINH

Ngoài những yếu tố văn hoá nói trên, nguồn gốc tây phương của văn minh TQ có thể dùng những yếu tố như tâm lý, xã hội và tôn giáo để kết luận: cư dân tại TQ hiện nay không phải là con cháu của những người đã khai sáng ra một trong những nền văn minh cổ đại của nhân loại. Thí dụ, tuy rất thông minh, người Hoa không có khả năng sáng tạo để tạo ra một tôn giáo bản địa, mà phải vay mượn từ các nền văn minh khác. Bên cạnh đó là những học thuyết phục vụ quyền lực thế tục từ nhiều ngàn năm qua đã biến họ trở nên tàn ác, tham quyền cố vị và hèn nhát. Điều này có thể thấy qua những anh hùng dân tộc của họ – toàn là những bọn lưu manh. Kể cả Khổng Tử, người mà họ coi là vị thầy của vạn thế, cũng có nhiều đặc tính của một tiểu nhân, hơn là quân tử.

THÔNG MINH NHƯNG KHÔNG SÁNG TẠO

Theo ý kiến của nhiều học giả tây phương, người Hoa thông minh nhưng không sáng tạo [2] Điều này người Hoa cũng biết rất rõ. Tinh thần quá thực dụng của họ đã giết chết mọi sáng tạo. Bá Dương viết trong Người Trung Quốc Xấu Xí [60]:

Người Trung Quốc làm bất cứ việc gì, trước tiên bao giờ cũng nghĩ đến một vấn đề: “Chuyện này có chỗ nào mình lợi dụng được không?”
Ông bác học người Anh Newton trước khi tìm ra “Định luật vạn vật hấp dẫn” (còn gọi là “Thuyết trọng lực”) đi đồng thì phân rơi vào hố xí, sau khi phát minh định luật này, lúc đi đồng phân vẫn cứ rơi vào hố xí. Hoàn toàn không phải là trước khi phát minh thì đi đại tiện cứt bay lên đầy trời. Vì vậy dân tộc Trung Quốc không bao giờ “phát minh” ra được một “thằng ngốc” như Newton cả.
Ga-li-lê tìm được “Nguyên lý rơi tự do của vật thể”, đối với người Trung Quốc đấy chỉ là cái trò chơi mất thì giờ, chẳng có giá trị thực dụng gì cả. Những người “hiền” chẳng ai chơi cái trò đó! Người Trung Quốc khấn Bồ-tát phù hộ cho họ trúng số độc đắc. Nếu họ trúng thì họ sẽ diễn ngay cái tuồng đền ơn, trả nghĩa. Nếu không trúng thì họ sẽ rủa Bồ-tát là đồ tượng gỗ, tượng đất. Chỉ cần có gì hay thì thần thánh nào họ cũng thờ. Bằng không thì họ chẳng tin thánh thần nào cả, chỉ tin vào chủ nghĩa thực dụng của họ mà thôi

Dĩ nhiên trong quá khứ đã có nhiều phát minh của người Hoa như địa bàn, giấy, máy in, thuốc nổ, tiền giấy.v.v…[61]. Tuy nhiên, những phát minh đó bắt nguồn từ nhu cầu thiết thực của họ. Kể từ mấy thế kỷ vừa qua, mọi phát minh quan trọng đều bắt nguồn từ những cảm hứng mãnh liệt của trí tưởng tượng. Thí dụ, khi bị trái táo rơi trúng đầu, lập tức Newton nhận ra quy luật làm cho trái táo rơi xuống đất cũng là quy luật giữ các thiên thể, các thiên hà trong quĩ đạo của chúng. Để chứng minh quy luật phổ quát đó, ông phải lập ra Calculus (tính vi tích) và dùng nó để giải thích mọi hiện tượng vật lý trong vũ trụ này. Kết quả là vật lý học cổ điển của Newton. Ngược lại, vì quá thực dụng, mặc dù đã có nhiều phát minh trong quá khứ, TQ không có khoa học, cũng không có cái mà tây phương gọi là triết học. Đó là ý kiến của Hegel [62, 63], và cũng là ý kiến của tướng Lưu Á Châu. Ông là con rể của cố chủ tịch nước Trung Quốc Lý Tiên Niệm, có thời là Phó Chính uỷ bộ đội không quân Trung Quốc, nay là Chính uỷ Trường đại học Quốc phòng Trung Quốc, từng là giáo sư thỉnh giảng của đại học Stanford của Mỹ. Ông viết [64]:

Lịch sử phương Tây là một bộ sử sửa cái xấu, cái sai thành cái tốt, cái đúng. Lịch sử Trung Quốc thì là một bộ sử sửa cái tốt cái đúng thành cái xấu cái sai. Thời cổ, phương Tây cái gì cũng cấm, chỉ có điều không cấm bản năng con người. Trung Quốc cái gì cũng không cấm, riêng bản năng thì cấm.
Người phương Tây dám thể hiện bản thân, tức thể hiện tư tưởng mình và còn dám phô bầy thân xác loã lồ của mình. Trung Quốc chỉ biết mặc quần áo, mặc quần áo cho tư tưởng. Mặc bao giờ cũng dễ hơn cởi. Phương Tây đả kích mặt đen tối của mình, cho nên tìm được ánh sáng, tư tưởng của họ đang bay bổng. Chúng ta ca ngợi sự sáng sủa của mình, kết quả đem lại bóng tối nghìn năm.
Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Hegel từng nói: “Trung Quốc không có triết học.” Tôi cho rằng mấy nghìn năm nay Trung Quốc chưa sản sinh được nhà tư tưởng nào. Nhà tư tưởng tôi nói là những người như Hegel, Socrates, Plato, những nhà tư tưởng ấy có cống hiến to lớn đối với tiến trình văn minh nhân loại. Lão Đan [tức Lão Tử – ND], bạn nói ông ấy là nhà tư tưởng phải không? Chỉ dựa vào “Đạo đức kinh” 5000 chữ mà có thể làm nhà tư tưởng ư? Đấy là chưa nói “Đạo đức kinh” của ông có vấn đề.
Khổng Tử có thể coi là nhà tư tưởng chăng? Thế hệ chúng ta xem xét ông thế nào? Tác phẩm của ông bị xem xét ra sao? Tác phẩm của ông chưa từng cung cấp cho nội tâm người Trung Quốc một hệ thống giá trị có thể đối kháng quyền lực thế tục. Cái mà ông cung cấp là tất cả xoay xung quanh quyền lực. Nếu Nho học là một tôn giáo thì đó là một tôn giáo rởm; nếu là tín ngưỡng thì là tín ngưỡng rởm; nếu là triết học thì đó là triết học của xã hội quan trường hoá. Xét trên ý nghĩa này thì Nho học có tội với người Trung Quốc.
Trung Quốc không thể có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Xã hội Trung Quốc là xã hội binh pháp, dân tộc ta chỉ tôn sùng nhà mưu lược. Một Gia Cát Lượng chẳng mấy thành công về sự nghiệp lại được người ta kỷ niệm nhiều lần. Ông ấy bụng dạ kém khoáng đạt, cách dùng người cũng chưa thích hợp. Có tư liệu cho thấy ông ta còn là kẻ lộng quyền. Nhưng chính con người như thế lại được nâng lên tầm cao phát sợ. Đây cũng là một phác hoạ tâm hồn dân tộc ta. Dưới hình thái xã hội như thế có ba loại hành vi thịnh hành ở Trung Quốc.

Câu hỏi là ngoài tính thực dụng, còn lý do người khác đã giết chết sự sáng tạo của người Hoa không? Theo một số học giả tây phương, chữ viết không cho phép họ có những tư tưởng trừu tượng [65], vốn là một yếu tố quan trọng trong sự sáng tạo. Điều này tôi hoàn toàn đồng ý. Một điều tôi nhận xét mỗi khi đi xe buýt ở California. Tại đó người nói tiếng Tây Ban Nha rất đông, và phần lớn họ không có xe mà phải đi xe buýt. Trên xe thường có các bảng chỉ dẫn, hoặc quảng cáo, viết bằng Anh ngữ và Tây Ban Nha. Tôi không đọc được tiếng Tây Ban Nha, nhưng tôi thấy những câu bằng tiếng Tây Ban Nha bao giờ cũng dài gấp đôi Anh ngữ hoặc hơn, và đó là lý do khoa học và kỹ thuật không phát triển mạnh tại vùng văn hoá đó như trong các nước dùng Anh ngữ, Pháp, Đức, Nga…. mặc dù văn học Tây Ban Nha đã có rất nhiều người đoạt giải Nobel văn chương, nhiều hơn trong các vùng văn hoá khác. Lý do toán học, khoa học, triết học không phát triển ở các vùng văn hoá Tây Ban Nha vì các bộ môn đó đòi hỏi một loại ngôn ngữ chính xác, ngắn gọn. Đó cũng là nguyên tắc của toán học – chính xác, ngắn gọn, không thừa, không thiếu. Gần đây khi học tiếng Hoa để du lịch, nhận xét của tôi là nói tiếng Hoa tương đối dễ, mà muốn học để đọc và viết thì phải mất rất nhiều thời giờ, và đó là một cản trở lớn cho tư tưởng. Do đó không phải tình cờ mà khoa học đã phát triển tại những vùng ngôn ngữ a, b, c. Dĩ nhiên, Hy Lạp đã có hình học cả ngàn năm trước khi Rene Descartes, Isiaac Newton, Galileo xuất hiện, nhưng nếu không có chữ a, b, c, sẽ không có đại số (algebra), mà không có đại số sẽ không có calculus, hình học giải tích, hình học vi phân, thống kê và các ngành toán khác dùng cho các ngành khoa học ngày nay.

Ngoài chữ viết, sách lược tiêu diệt những ý tưởng đối lập của giới lãnh đạo Trung Quốc đã áp dụng từ mấy ngàn năm qua và vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay. Đầu tiên là Thượng Ưởng. Khi được cử làm tướng quốc nước Tần, ông đã đưa ra rất nhiều chính sách để giúp Tần trở thành bá chủ các chư hầu, trong đó có ngũ gia liên bảo, tức là cứ 5 nhà họp thành một tổ để kiểm soát lẫn nhau. Người khen ông rất nhiều. Chê cũng không ít. Ông bắt tất cả vì khen là nịnh cấp trên, mà chê là chống đối. Chính sách của Thượng Ưởng được Tần Thủy Hoàng đẩy mạnh hơn nữa. Sau khi thống nhất Trung Quốc, Lý Tư đề nghị Tần Thủy Hoàng dập tắt tự do ngôn luận để thống nhất các chính kiến và tư tưởng, bằng cách đốt hết sách và giết các nhà nho và các trí thức khác có tư tưởng khác với mình. Lý Tư chỉ trích giới trí thức đang dùng dối trá để tạo ra phản loạn. Tần Thủy Hoàng theo triết học Pháp gia và tiêu diệt những triết học khác như Bách Gia Chư Tử hay Nho giáo. Mặc dù sự tàn bạo của Tần Thủy Hoàng chỉ tồn tại được hai mươi năm là hết, nó đã giết chết sự sáng tạo của người Hoa. Trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất, Trung Quốc có 6 nước. Nếu vua của một trong 6 nước đó không thích người nào, ông có thể trốn qua nước khác. Nhưng khi Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, không có chỗ nào cho ông ta trốn nữa. Kể từ đó đến nay những người bất đồng quan điểm với chính quyền đều bị tiêu diệt. Thế là thời kỳ vàng son của văn minh Trung Quốc với những tên tuổi lớn như Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mạnh tử, Tuân tử, Mặc tử, Hàn Phi tử… vĩnh viễn ra đi và không bao giờ trở lại. Sau Thủy Hoàng là Lưu Bang. Sau khi diệt cả Tần lẫn Sở và lập lên nhà Hán, Lưu Bang ủy thác cho Lục Cổ soạn ra chính sách mới để cai trị dân. Sau một thời gian khổ công, Lục Cổ viết được một tập sách, gọi là Tân Ngữ, gồm 12 chương. Tân Ngữ đã trở thành tư tưởng chỉ đạo trong suốt bốn triều đại thời đầu Tây Hán. Căn cứ vào tư tưởng của Tân Ngữ, triều đình đã thay đổi tư tưởng thống trị từ pháp gia sang học thuyết của Lão tử, chủ trương không nên dùng pháp quá mạnh. Chủ trương này đã được Lão Tử viết trong Đạo Đức Kinh, chương ba [15]:

Cho nên thánh nhân trị dân bằng cách làm cho tâm hồn trống rỗng, bụng no, ý chí yếu, xương cốt mạnh, làm cho dân ngu, không ham muốn, mà bọn trí xảo không dám hành động. Theo chính sách “vô vi” thì mọi việc đều trị.

Châm ngôn này đã được bọn lãnh đạo Trung Quốc áp dụng từ đó đến nay. Chúng chỉ cho phép người Hoa tự do thương mại, mà không cho tự do chính trị, ngôn luận. Nói về chủ trương không cho bọn trí xảo hành động, Lão Tử và Khổng Tử hoàn toàn đồng ý. Khổng viết:

Phá bỏ tà thuyết bất chính, không chính xác; cái hại sẽ tiêu tan (Công hồ dị đoan, tư hại dã dĩ – Luận Ngữ 2.16).

Chính vì thế khi làm tướng quốc nước Lỗ được bảy ngày, Khổng Tử chém Thiếu Chính Mão để làm gương cho người khác. Đó là kế giết gà để dọa khỉ (sát kê hách hầu) mà TQ vẫn làm để tiêu diệt những người chống đối. Điều này tướng Lưu Á Châu hoàn toàn đồng ý [64]:

Tôn giáo Trung Quốc có mấy loại, tuy khác nhau về tư tưởng nhưng trên mặt chủ nghĩa chống hiểu biết hoặc chủ trương ngu dân thì đều như nhau. Chính vì thế mà tôn giáo mới được tầng lớp thống trị coi trọng. Dưới sự giáp công của văn hoá tôn giáo và chính sách ngu dân của lực lượng thống trị, người Trung Quốc hình thành quần thể như ngày nay. Người Trung Quốc giỏi nhất về chuyện ca tụng công đức, thứ nhì là tố giác, thứ ba là giở thủ đoạn, cuối cùng là khôn ngoan bo bo giữ mình.
Người Mãn Thanh thống trị Trung Quốc thành công nhất. Họ hiểu rõ đặc tính quan trường của người Trung Quốc: Dốc lòng trung thành với cá nhân, không trung thành với nhà nước.
Trong việc thống trị ba dân tộc Hán, Mông, Tạng ở Trung Quốc, người Mãn Châu nhằm vào các đặc điểm khác nhau của ba dân tộc này để sử dụng những mánh khoé khác nhau. Người Tây Tạng tin Phật Giáo, triều đình nhà Thanh cho dựng ngay tại Thừa Đức [6] một ngôi chùa phỏng theo kiểu chùa Tây Tạng, đón Lạt Ma về kinh đô làm ông lớn. Người Mông Cổ nhanh nhẹn dũng mãnh thì dùng thủ đoạn hôn nhân, gả con gái hoàng tộc cho vương công Mông Cổ, đẻ ra con trai thì nó là cháu ngoại. Đối với người Hán thì dùng khoa cử. Người Hán có tật thích làm quan. Chỉ cần cho làm quan, tựa như quẳng khúc xương cho con chó, là cúi đầu cụp tai ngoan ngoãn nghe theo.
Hồi tôi sang Mỹ, thày hướng dẫn tôi là người chuyên nghiên cứu về Mao Trạch Đông. Ông ấy cho rằng trong đời mình, Mao Trạch Đông tổng cộng làm được 31 việc. Nghiên cứu kỹ 31 sự việc này, tôi phát hiện thấy trong đó có 20 sự việc liên quan tới huỷ hoại tinh thần và đạo đức con người.
Đến năm 1966, cuối cùng Mao Trạch Đông phát động cuộc Cách mạng Văn hoá chưa từng có trong lịch sử, làm cho kinh tế Trung Quốc đi tới bờ vực sụp đổ, càng làm cho phẩm chất đạo đức của nhân dân toàn quốc hạ thấp xuống tới mức đáng sợ, nhà nước mấy lần sa vào tình cảnh muôn đời không phục hồi được.

TRUNG QUỐC KHÔNG CÓ TÌNH YÊU

Hậu qủa của sự thiếu sáng tạo là TQ không thể tạo nổi một tôn giáo bản địa mà phải vay mượn tứ tung, mượn Phật Giáo từ Ấn Độ và mượn chủ nghĩa Cộng Sản từ tây phương. Và lý do TQ không thể tạo nổi một tôn giáo bản địa vì tình yêu không có chỗ đứng quan trọng trong văn hoá TQ. Những tên tuổi lớn của TQ như Lão Tử, Trang Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Mặc Tử, Hàn Phi Tử… chẳng bao giờ nói về tình yêu, hoặc nói cho có, chẳng hạn thuyết Kiêm Ái của Mặc Tử. Vì thế chúng không thể đóng vai trò chủ đạo như khi Chúa, khi Phật nói về tình yêu. Sự vắng bóng của tình yêu trong văn hoá Trung Quốc có rất nhiều hậu qủa nghiêm trọng về xã hội và tâm lý mà những thiên tài và những đại trí thức của Trung Quốc vẫn chưa nhận ra. Hai yếu tố tối cần của tôn giáo là tình yêu và tỉnh thức. Tình yêu là tôn giáo của đám đông. Tỉnh thức là tôn giáo của các bậc thượng trí. Tình yêu là yếu tố bắt buộc phải có đối với quần chúng. Nó là yếu tố đưa đám đông đến với tôn giáo. Nó cũng là yếu tố giúp con người sống hài hoà với thau. Tại sao Phật tử thờ Quán Thế Âm Bồ Tát? Vì Ngài luôn luôn nghe ngóng khắp nơi. Ở đâu chúng sinh còn đau khổ, Ngài sẽ ra tay cứu độ. Tại sao Ki Tô hữu thờ Mẹ Ma-ri-a? Vì khác Thiên Chúa, không những Mẹ không phán xét ai, mà luôn luôn bào chữa, luôn luôn khẩn cầu Thiên Chúa bớt cơn thịnh nộ đối với nhân loại. Vì văn hoá Trung Quốc thiếu yếu tố tình yêu, Trung Quốc không thể sáng tạo được một tôn giáo cho đại chúng. Đó là lý do Trung Quốc đã phải nghênh đón Phật Giáo từ Ấn Độ về. Hậu qủa nghiêm trọng là vì thiếu tình yêu, Trung Quốc cũng thiếu sự tha thứ. Điều này có thể thấy ngay trong những bộ kiếm hiệp của Kim Dung. Toàn bộ tác phẩm của Kim Dung chỉ có một chủ đề duy nhất là tìm thù rửa hận. Mỗi chuyện của Kim Dung là một sân khấu mới để vở kịch báo thù khác tiếp diễn. Và đó không phải là chuyện hoang đường. Toàn thể lịch sử Trung Quốc là lịch sử của hận thù. Vài thí dụ. Chỉ vì nghe câu “Vong Tần giả Hồ,” Tần Thủy Hoàng đã huy động cả triệu dân quân để xây Vạn Lý Trường Thành, làm cho hàng vạn sinh linh phải chết oan. Ngay cả thái tử Phù Tô và đại tướng Mông Điềm cũng bị ép uống thuốc độc tự tử. Hạng Vũ thì chôn sống hơn hai trăm ngàn quân Tần của Chương Hàm. Nổi tiếng nhất là oai vũ sát tận Giang Nam bách vạn binh của Chu Nguyên Chương. Mao thì đã giúp giải thoát ít nhất năm chục triệu linh hồn khỏi thế giới ta bà này. Mà nếu một tên khu đen nào làm gì trái ý các con trời, ba họ của tên đó sẽ bị tru di. Vì thế đối với Bá Dương, sinh ra làm người Trung Quốc là một đại bất hạnh. Sự báo thù không phải chỉ có trong tiểu thuyết của Kim Dung và trong thực tế với những “đại anh hùng” của Trung Quốc. Khổng Tử được người Hoa coi là người thầy của vạn thế mà cũng thiếu sự tha thứ.

Có người hỏi Khổng Tử, “Lấy đức báo oán thù, vậy được không?” (Hoặc viết, “Dĩ đức báo oán, hà nhơn?”)
Khổng tử đáp: “Thế thì lấy gì báo ân đức ? Hãy lấy ngay thẳng báo oán, dùng ân đức để báo đáp ân đức” (Tử viết, “Hà dĩ báo đức? Dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức”. Luận Ngữ 14.35).

Lấy đức báo oán cùng là lời dạy của Phật. Chúa cũng nói nếu kẻ nào tát má phải của ta, hãy đưa má trái cho nó tát luôn. Thế thì người đặt câu hỏi này nhân từ hơn Khổng Tử vì biết tha thứ. Khổng Tử mà không biết tha thứ, người thường sao có thể tha thứ được? Cho nên không một cuộc cách mạng nào của Trung Quốc không có tắm máu. Về mặt này Trung Quốc thua xa những bọn “mọi rợ” Nam Phi và Kampuchia. Trong những năm đầu thập niên 1990, dưới sự lãnh đạo của Nelson Mandala và Giám Mục Desmond Tutu, Nam Phi đã dành được chính quyền trong tay người da trắng. Cả thế giới hồi hộp chờ cuộc tắm máu chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng khi Giám Mục Tutu được giao trách nhiệm hòa giải dân tộc, Ngài tuyên bố với cả nước, kẻ nào phạm tội ác hãy tự khai ra, còn nạn nhân thì hãy đứng lên kể tội những người đã làm hại mình. Sau khi cả nước xưng tội xong, Nam Phi đã có thể hòa giải với nhau. Không một giọt máu, không một giọt nước mắt nào phải đổ ra. Tương tự như vậy, Kampuchia tuy là “nam di” nhưng cũng biết tha thứ, hòa giải. Mặc dù những bọn Khmer Đỏ đã giết gần nửa dân số, không một lãnh tụ Khmer Đỏ nào bị xử tử. Nam Phi và Kampuchia có thể hòa giải vì văn hoá của Chúa, của Phật có tình yêu, có tha thứ. Ngược lại, trong văn hoá Khổng Mạnh, tha thứ và hòa giải là những đòi hỏi quá đáng.

MẶC CẢM THUA KÉM

Vì thiếu tình yêu, phần đông người Hoa đều có mặc cảm thua kém. Đó là kết quả của “giáo lý” Lễ, Nhạc của Khổng Tử. Khổng đặt ra Lễ để cho trên dưới, trật tự phân minh; đặt ra Nhạc để trên, dưới hòa đồng. Vấn đề là ở chỗ đó. Vì thiếu tình yêu nên mới có trên, có dưới. Vì thiếu tình yêu nên mới phải dùng nhạc để hòa đồng. Đó là một mâu thuẫn lớn. Đã phân biệt trên, dưới, sao có thể hòa đồng được? Chỉ khi trên dưới không còn phân biệt nữa mới có thể hòa đồng. Khổng không biết con người đều có mặc cảm thua kém nên không ai không muốn ở trên, và chẳng ai muốn ở dưới. Đó là lý do người Hoa khi nói chuyện thường hét lên. Cách đây không lâu khi còn ở Seal Beach, California, tôi có bác sĩ gia đình là người Mỹ gốc Hoa. Mỗi lần khám bệnh cho tôi, không hiểu sao ông ấy nói như thể hét lên, mặc dù trong phòng cửa đóng chỉ có ông ấy và tôi. Sau này đọc Người Trung Quốc Xấu Xí của Bá Dương, tôi mới biết khi người Hoa nói, họ phải hét lên để áp đảo tinh thần của người kia và để người kia biết họ là ai. Người Hoa sinh ra trong một văn hoá có quá nhiều trật tự nên trong nhà phải chịu đựng, nhưng khi ra đường, ông phải hét lên vì không muốn người khác chèn ép mình. Đó là lý do người Hoa rất thích làm quan vì làm quan, ông có thể đè đầu, bóp cổ người khác. Với tâm lý ấy, người Hoa có thể bị cai trị rất dễ dàng. Dùng phương pháp lấy người Hoa trị người Hoa, Mãn Châu đã cai trị người Hoa hơn 400 năm vì người Hoa có rất nhiều ngụy anh hùng. Vì mặc cảm thua kém, phần đông người Hoa đều là những người tham quyền, cố vị, và người nào cũng muốn làm lãnh tụ.

Cũng vì mặc cảm thua kém, theo lời Bá Dương, người Hoa không biết khen là gì, vì điều đó xác nhận người đó giỏi hơn mình. Hay nhất là tìm mọi cách để kéo người khác xuống ngang hàng với mình. Điển hình là Kim Dung. Trước khi nổi tiếng, ông đã viết nhiều tác phẩm võ hiệp, nhưng người Hoa không để ý. Đến khi Saigon bốc cháy vì những bản dịch với một văn phong trác tuyệt của Hàn Giang Nhạn, người Hoa mới quay lại tôn thờ ông. Mặc Ngôn cũng vậy. Sách của ông chẳng mấy người đọc. Khi ông đoạt giải Nobel văn chương, người Hoa đổ xô tìm sách của ông. Người Việt cũng bị bệnh đó. Khoảng đầu năm 2017, một người bạn gửi cho tôi một trang mạng trong đó một học giả Hán, Nôm phê bình sách của một giáo sư khác. Tôi chưa đọc sách của giáo sư ấy, nhưng khi đọc bài phê bình của học giả kia, cảm tưởng của tôi là ông ta khoe sự hiểu biết của mình, hơn là đóng góp ý tưởng của ông để tất cả được lợi ích. Ở Mỹ hiện tượng này không thể xảy ra. Trong những sách xuất bản tại Mỹ, trang đầu bao giờ cũng là lời cám ơn của tác giả với ít nhất 10 học giả thân hữu, và đều có lời giới thiệu của một học giả tên tuổi. Thí dụ, cuốn Living Buddha, Living Christ của thầy Nhất Hạnh có lời giới thiệu của Elaine Pagles, một học giả nổi tiếng về Kinh Thánh. Lời giới thiệu của bà Pagels tự nó bảo đảm cho chất lượng của sách. Vì thế khi hội đồng các chủ bút đọc bản thảo và thấy tên tuổi của những học giả thân hữu đó, phần lớn họ chấp nhận và đề nghị nhà xuất bản in. Nhưng trước khi in, nhà xuất bản gửi bản thảo cho một số nhà phê bình duyệt qua một lần nữa. Với phương pháp làm việc đó, chất lượng của sách luôn luôn được bảo đảm. Và do đó những lời phê bình đầy vể khoe khoang của các học giả khác không bao giờ xảy ra. Tuy nhiên, đó là cách tốt nhất để giết nhân tài. Trong một bầu không khí người khen thì ít, mà người chê quá nhiều, chẳng mấy người muốn cố gắng nữa. Và đó là sự khác biệt giữa Mỹ và TQ. Văn hoá Mỹ tất cả kéo nhau lên, trong khi văn hoá TQ tất cả kéo nhau xuống. Vì mặc cảm thua kém và tự tôn, người Hoa không muốn ai hơn mình.

Cũng vì mặc cảm thua kém, người Hoa thích nói xấu nhau. Họ thích xoi mói đời tư của người khác rồi mách lẻo với nhau, nếu cần thì tố cáo với chính quyền. Điều này cả Bá Dương lẫn tướng Lưu Á Châu đều đồng ý. Tôi có một số bạn cũng có tật xấu đó. Lúc đầu khi nghe họ nói với về người khác, tôi có cảm tưởng họ rất thân với tôi nên đôi khi cũng thích nghe. Và tôi cũng có tật xấu đó. Gần đây trên các mạng xã hội tôi gặp nhiều câu nói rất hay, chẳng hạn, “Đầu óc lớn bàn về các ý tưởng. Đầu óc tầm thường bàn về thời sự. Đầu óc nhỏ bàn về người khác.” (Great minds discuss ideas. Mediocre minds discuss events. Small minds discuss people). Văn hoá TQ đã đẻ ra rất nhiều đầu óc tầm thường và nhỏ mọn. Vì thế những đầu óc đó cần phải có các lãnh tụ lưu manh để lãnh đạo họ. Voltaire từng nói, dân tộc nào cũng có một chính phủ xứng đáng với họ. Hoàn toàn đúng!

LÃNH TỤ LƯU MANH

Cũng vì mặc cảm thua kém, các lãnh tụ của Trung Quốc phần lớn là những bọn lưu manh. Một thí dụ là Lưu Bang. Xuất thân là một trùm du đãng, ngày ngày hắn chỉ biết tụ tập, cờ bạc, đàng điếm. Một hôm nhìn tướng Lưu Bang, Lã công biết sau này y sẽ làm vua nên gả con gái cho và khuyến khích y làm đại sự. Cùng thời điểm đó nhà Tần suy xụp, Lưu Bang cùng bọn du côn phất cờ khởi nghĩa, nhưng trước khi nhà Tần bị Hạng Võ tiêu diệt, hắn không hề đánh một trận nào với quân Tần. Mỗi khi bị đuổi đánh, y bỏ chạy để “bảo tồn quân số.” Nhân gian có câu, “Chạy rống Bái công,” để chỉ sự hèn nhát của y. Đó là “tẩu vi thượng kế” mà người Hoa cho là hay nhất. Trong suốt thời gian Hạng Võ diệt Tần, Lưu Bang trốn về Ba Thục để “dưỡng quân.” Đến khi thế lực của Hạng Võ suy yếu, lập tức hắn đem quân về diệt Hạng Võ mà lập lên nhà Hán. Sau khi diệt xong Hạng Vũ, việc đầu tiên là bỏ tù thừa tướng Tiêu Hà, rồi lấy cớ đi tuần thú để vợ ở nhà giết nguyên soái Hàn Tín để không bị mang tiếng xấu là giết công thần. Trương Lương biết rõ tâm lý “hết mùa săn giết chó” của hắn nên phải đi ở ẩn mới thoát. Sách lược của Lưu Bang sau này được Chu Nguyên Chương và Mao Trạch Đông áp dụng triệt để. Chu Nguyên Chương không hề giáp chiến với quân Nguyên. Sau khi hào kiệt khắp nơi bị kiệt lực vì quân Nguyên, Chương quay lại diệt tất cả mà lập ra nhà Minh. Mao cũng thế. Hắn chưa hề đụng độ với quân đội Nhật và với Tưởng. Khi bị Tưởng truy kích, Mao chạy về trốn ở Diên An, theo đúng sách lược của Lưu Bang và Chu Nguyên Chương. Nhưng để chữa thẹn Mao gọi là vạn lý trường chinh. Phải gọi là vạn lý ôm quần mà chạy mới đúng. Một thí dụ khác là Lưu Bị. Cùng với Quan Công và Trương Phi kết nghĩa vườn Đào. Thế mà sau khi cùng với Tôn Quyền đánh bại Tào Tháo ở Xích Bích, Bị muốn diệt Quan và Trương để trừ hậu hoạn cho con cháu sau này. Vì là một tên kiêu căng, phách lối, hữu dõng và vô mưu, Quan Công coi Lã Mông và Lục Tốn là những tên vô danh, không có kinh nghiệm chiến trường nên khinh địch. Khi Quan Công bị uy hiếp, Bị không đem quân tiếp viện. Cuối cùng Quan và Trương đều bị chết thảm.

Hệ luận trực tiếp của bọn lãnh đạo lưu manh đó là khi thành công, lập tức chúng lôi công thần ra chém. Lịch sử Trung Quốc là lịch sử của những bọn lưu manh, phản bội đã biến người Hoa thành những người hèn nhát để mà sống. Sự hèn nhát của người Hoa có thể thấy trong lịch sử của họ. Trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, người Hoa đánh với nhau thì giỏi, nhưng lại bị những đạo binh viễn chinh chinh phục dễ dàng. Trung Quốc rộng lớn như ngày nay chính là nhờ công của các đạo quân viễn chinh Mông Cổ và Mãn Châu, chứ không phải của những đám ngụy anh hùng kia. Mới đây tướng Lưu Á Châu của Trung Quốc cũng nhận xét như thế [64]:

… [N]gười Trung Quốc chúng ta đứng trước những kẻ xâm lược nước ngoài thì lại trở thành những con dê, đứng trước đồng bào mình thì lại trở thành những con sói. Chỉ cần khoảng 100 lính Nhật Bản, lại có thể dẫn cả một đoàn tù binh lính Quốc Dân Đảng tới 5 vạn ngườ tới Yến Tử Cơ để hành quyết. Đừng nói là phản kháng, bọn họ đến cả dũng khí chạy trốn cũng không có. Ở chiến dịch Thái Vu trong chiến tranh giải phóng (chiến tranh Quốc Cộng 1946-1949), chỉ có 3 ngày, chúng ta đã đánh tan 7 sư đoàn với hơn 56000 người. Sau chiến dịch, Vương Diệu Vũ đã nói: “5 vạn đầu lợn, kêu Cộng quân đi bắt, trong 3 ngày cũng bắt không hết”.

Có lẽ tướng Lưu Á Châu đã quên. Quân đội Quốc Dân Đảng hèn thật, nhưng quân đội nhân dân không phải là quân đội bách chiến. Năm 1979, quân đội ấy đã được con cháu Triệu, Trưng dạy cho một bài học để đời. Chỉ trong vòng hơn một tháng, hơn 20 ngàn con trời đã về chầu tổ tiên và phải mau chóng rút quân. Quan điểm, “bất hiếu có ba loại, không con là đại bất hiếu,” của Mạnh tử đã làm người Hoa sợ chết. Bên cạnh đó là chính sách một con của đảng hiện nay đã làm người Hoa sợ chết hơn nữa. Vì biết người Hoa sợ chết, trong suốt thời gian “vạn lý ôm quần mà chạy”, Mao đã liên tục thanh trừng và tự kiểm thảo để biến quân đội ấy thành những người máy chẳng còn nhân tính. Sự thanh trừng ấy đã làm các quan sát viên Hồng quân Nga phải kinh hoàng [65]. Với một quân đội người máy không có nhân tính ấy, Mao đã trở thành tên đồ tể khát máu hơn cả Tần Thủy Hoàng và Chu Nguyên Chương. Làm dân trong một nước mà lãnh đạo là những bọn lưu manh, khát máu, phải hèn và nhát mà sống. Đúng như lời Bá Dương, sinh ra làm người Trung Quốc là một đại bất hạnh.

Gần đây nhất và điển hình nhất là Mao Trạch Đông, người được người Hoa tôn sùng vì đã có công “thống nhất” TQ và đã tiêu diệt những thế lực thù nghịch của tây phương. Một số người được Mao bắt tay. Cả tuần người đó không rửa tay vì muốn giữ lại cảm giác với Mao càng lâu càng tốt. Những người không được Mao bắt tay cũng tìm gặp người đó bắt tay để bắt tay vì muốn được chút cảm giác thừa [15]. Thật sự thì chiến thắng 1949 của Mao chỉ là một tình cờ của lịch sử. Trong hội nghị Yalta với Roosevelt, Churchill, từ ngày 4 đến 11, tháng 2, 1945, Stalin đã được trao nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật ở Mãn Châu. Lập tức Stalin trao Mãn Châu cho Mao, cùng với một số lượng lớn vũ khí thặng dư sau thế chiến thứ hai. Với những vũ khí mới đó, Mao bắt đầu phản công bằng hai mũi dùi từ Mãn Châu ở phái Bắc, và từ Tân Cương ở phía Tây do Mao lãnh đạo; chỉ vài tháng sau trùm tham nhũng có đầu đậu phộng Tưởng Giới Thạch phải chạy ra Đài Loan thoát thân [15]. Trước đó Mao luôn luôn theo sách lược “chạy rống Bái công” của Lưu Bang và Chu Nguyên Chương mà lẩn trốn mỗi khi bị truy kích. Nhưng ngay sau khi thắng được Tưởng Giới Thạch, lập tức Mao thực hiện sách lược “giết chó khi hết mùa săn”. Những trung thần như Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu… đều bị Mao giết bằng những thủ đoạn tàn độc nhất.

Những bọn lãnh đạo lưu manh, hèn nhát và khát máu như Tần Thủy Hoàng, Chu Nguyên Chương, Mao Trạch Đông… chỉ có thể xảy ra trong văn hoá phụng sự quyền lực thế tục của Nho giáo.

KHỔNG TỬ: SẢN PHẨM CỦA NHỮNG ĐẦU ÓC THẤP KÉM

Cuối cùng, vì mặc cảm thua kém và thiếu sáng tạo, văn hoá Trung Quốc là văn hoá của những ngụy quân tử. Vì vấn đề sinh tồn, phần đông người Hoa phải hèn để sống. Điều này có thể thấy qua văn học Trung Quốc. Đó là nơi duy nhất đề cao những người hùng, đại trượng phu, quân tử một cách quá đáng. Theo tâm lý học của Alfed Adler, khi bị mặc cảm tự ti, phàm nhân đề cao những giá trị tích cực để che dấu mặc cảm đó. Thí dụ, Xuân Thu Chiến Quốc mô tả những dũng sĩ như Kinh Kha, Dự Nhượng, Khánh Kỵ, Yêu Ly… với những chi tiết rất hoang đường, chẳng hạn chuyện Yêu Ly giết Khánh Kỵ bằng cách mách kế cho Hạp Lư giết vợ con mình và chặt cánh tay của mình để Khánh Kỵ tin để rồi bị phản bội. Sự kiện này cầm thú cũng thua. Khó mà có những người gỗ đá như thế trên đời này, mà lại là người Hoa bản chất vốn hèn. Tam Quốc Chí được nhiều người ưa thích vì nó đánh bóng những người nhân nghĩa, anh hùng, như Lưu Bị, Quan Vân Trường và Trương Phi, đồng thời bôi đen những người xảo trá như Tào Tháo. Nhưng La Quán Trung không biết Lưu Bị là người hèn hạ nhất đời. Gần đây những nhân vật anh hùng như Kiều Phong, Đoàn Dự, Lệnh Hồ Xung, Quách Tĩnh, Dương Quá, Vô Kỵ.. của Kim Dung đã làm say mê triệu triệu con tim người Hoa. Tại sao họ mê những nhân vật đó? Vì trong thâm tâm họ biết rõ họ là tiểu nhân nên lập tức bị hấp dẫn bởi những người hùng không có thật đó. Trong thực tế, hình ảnh về những người hùng, đại trượng phu, quân tử đó chỉ là sự tưởng tượng của các văn sĩ, là sự khao khát một mẫu người không có thật của cả một xã hội, và là lối thoát tạm thời của những tâm hồn tầm thường, nhỏ mọn và bạc nhược. Nếu lấy những đại anh hùng trong lịch sử Trung Quốc mà xét, những tên tuổi lớn đó có nhiều đặc tính của những thằng hèn, hơn là đại trượng phu, quân tử, kể cả Khổng Tử.

Khổng Tử bàn ở đây, theo Albert Terrien de Lacouperie, không phải là một nhân vật lịch sử, bằng xương, bằng thịt, mà là một nhân vật tưởng tượng, một sản phẩm của những bộ óc hạng bét do bọn cầm quyền nặn ra để phục vụ quyền lợi của bọn chúng. de Lacouperie viết [72]:

Các học giả và nhà Hán học khác, choáng ngợp bởi lịch sử phức tạp của văn học Trung Quốc – qua nhiều thế hệ. Bình luận gia và tư tưởng gia, tự do thay đổi ý kiến của những người đi trước – thấy mình không thể thoát khỏi áp lực của đám đông, và không nhìn thấu bầu không khí hư cấu này, đứng ngoài cuộc và có thái độ hoài nghi mù quáng, đến mức nghi ngờ tất cả, kể cả vấn đề Khổng Tử có thật hay không.

Cũng theo Joseph Campbell, cái được truyền đến nay là Nho giáo, không phải Khổng Tử, vì các triều đại Trung Quốc luôn luôn sửa đổi kinh điển của Nho giáo cho phù hợp đường lối cai trị của họ [34]. Cho nên nếu lấy lời nói, việc làm của Khổng Tử đó mà xét, căn cứ trên những tiêu chí của Khổng như – Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín – khó mà kết luận Khổng là một người quân tử vì mặt trái của ông có quá nhiều điều xấu xa mà người Hoa cố tình làm ngơ. Về điểm này tướng Lưu Á Châu hoàn toàn đồng ý [64].

Khổng Tử có thể coi là nhà tư tưởng chăng? Thế hệ chúng ta xem xét ông thế nào? Tác phẩm của ông bị xem xét ra sao? Tác phẩm của ông chưa từng cung cấp cho nội tâm người Trung Quốc một hệ thống giá trị có thể đối kháng quyền lực thế tục. Cái mà ông cung cấp là tất cả xoay xung quanh quyền lực. Nếu Nho học là một tôn giáo thì đó là một tôn giáo rởm; nếu là tín ngưỡng thì là tín ngưỡng rởm; nếu là triết học thì đó là triết học của xã hội quan trường hoá. Xét trên ý nghĩa này thì Nho học có tội với người Trung Quốc.

Quan điểm về Khổng Tử của tướng Lưu Á Châu nhiều học giả đã nhận ra từ lâu, vì Khổng Tử mà ta biết là sản phẩm của một tâm trí thiếu chiều sâu của xã hội quan trường, chỉ biết phục vụ cho quyền lực thế tục, và nó đã vẽ ra một Khổng Tử có nhiều đặc tính của một tiểu nhân, hơn là quân tử. Trước hết, Khổng là người bất tín.

Khổng tử chủ trương trị nước, không nên giết người. Quí Khang tử hỏi Khổng tử về phép trị dân, “Giết kẻ vô đạo để cho người khác thành hữu đạo nên chẳng?”
Khổng tử đáp, “Ông trị dân, cần gì phải dùng biện pháp giết người? Ông muốn thiện thì dân sẽ hóa thiện. Đức hạnh của người quân tử (người trị dân) như gió, mà đức hạnh của tiểu nhân (dân) như cỏ. Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống” (Luận Ngữ 12.19).

Thế mà khi cầm quyền nước Lỗ được 7 ngày, lập tức Khổng Tử giết Thiếu Chính Mão. Đó là bằng chứng Khổng nói một đàng, làm một nẻo. Vậy thì nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Khổng Tử chẳng có giá trị gì cả. Giết người vì lợi ích cá nhân là bất nhân. Nói một đàng, làm một nẻo là bất tín.

Khổng cũng là người bất trí. Tăng Sâm là học trò của Khổng Tử, nổi danh về chữ hiếu. Một hôm Sâm bị cha đánh đến bất tỉnh. Lúc tỉnh dậy, Sâm nói với cha, “Vừa rồi Sâm không cẩn thận đã đắc tội với phụ thân, và phụ thân phải dùng hết khí lực dạy dỗ Sâm, phụ thân có mệt không?” Khi nghe chuyện kể, Khổng Tử tức giận, nói với các đệ tử, “Nếu như Sâm đến, đừng cho nó vào”. Sâm tự nghĩ mình không làm gì sai, bèn nhờ người hỏi ý thầy. Khổng nói: “Trò không có nghe nói sao? Lúc trước phụ thân của Ngu Thuấn là Cổ Tẩu, Thuấn cẩn thận chăm sóc phụ thân, khi Cổ Tẩu muốn sai bảo ông ta, Thuấn đều sẽ xuất hiện bên cạnh. Thế nhưng, khi Cổ Tẩu muốn giết Thuấn, thì không tìm thấy Thuấn. Nếu như phụ thân dùng gậy gộc nhỏ đánh Thuấn, Thuấn sẽ yên lặng chịu đựng. Nếu phụ thân dùng gậy to đánh Thuấn, Thuấn sẽ chạy không thấy bóng dáng. Thế nên Cổ Tẩu không có phạm phải sai lầm không đáng làm phụ thân, mà Thuấn cũng không mất đi hiếu đạo thuần hậu.”

Tam cương – quân, sư, phụ – của Khổng đã tạo ra loại người kịch cỡm như Tăng Sâm. Đó là bằng chứng Khổng là người bất trí. Khi đứa trẻ sinh ra, nó không biết tình yêu là gì, vì tình yêu chỉ nẩy nở khi tiếp xúc với người khác, đặc biệt với cha mẹ. Qua tình yêu của cha mẹ với nó, tình yêu phát khởi. Thế mà trong văn hoá Khổng Mạnh, những người như cha của Tăng Sâm là đại đa số tuyệt đối. Ruột thịt mà đánh như kẻ tử thù, thử hỏi khi kẻ thù rơi vào tay mình, sao có thể tha thứ được. Lúc còn trẻ Mao luôn luôn bị cha và anh đánh. Khi có quyền trong tay, Mao đã trở thành một trong những đồ tể khét tiếng nhất trong lịch sử loài người, vì ngay từ lúc còn thơ, cha hắn đã dạy rằng chỉ có bạo lực mới đạt được những kết quả mong muốn. Cho nên hành hạ con cái dẫn đến bạo lực, tàn ác. Khổng cũng không biết bạo lực với con trẻ tức là dạy chúng nói dối. Trẻ con không biết thế nào là đúng, thế nào sai. Khi nó làm gì sai, không những không dạy nó mà đánh đập nó như từ thù. Vậy thì khi hỏi nó đã làm gì, tốt hơn là nói dối để khỏi phải ăn đòn. Kết quả là một xã hội toàn những người dối trá, và vì thế trong xã hội không ai dám tin ai. Và nghiêm trọng hơn tất cả là lối giáo dục roi, vọt đó đã giết chết sáng tạo, bởi vì đứa trẻ không dám có ý nghĩ gì khác cha mẹ nó, và sau này khi ra đời nó không dám có ý khác người trên. Đó là lý do từ khi Khổng được độc tôn, thời vàng son của thời Đông Chu vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại. Mà nếu ngay trong nhà mà đứa trẻ bị cha mẹ uy hiếp, lúc khôn lớn nó cũng làm như thế đối với người khác. Kết quả là một xã hội chỉ toàn những người độc tài. Những hậu qủa này Khổng không biết vì ông ta là người bất trí.

Khổng cũng rất sợ chết. Khi qua đất Khuông bị vây khốn làm Khổng hoảng sợ. Khổng nói với chính mình, “Vua Văn Vương đã mất đi, chẳng phải lễ nhạc, văn hóa đều còn ở nơi ta cả ư? Nếu Trời muốn hủy diệt nền văn hoá này thì sao vua Văn Vương mất đi lại ủy thác cho ta nắm lấy làm chi? Còn nếu Trời không muốn mất nền văn hoá này thì người Khuông làm gì được ta!” (Luận Ngữ 9.5). Trong lúc ấy Nhan Hồi đi sau, bị lạc, cuối cùng mới gặp nhau. Khi gặp Hồi, Khổng nói, “Ta tưởng ngươi chết rồi!” Nhan Hồi đáp, “Thầy còn sống, làm sao con dám chết?!” (Luận Ngữ 11.22).

Trong Luận Ngữ có rất nhiều câu tào lao như thế. Sao Khổng phải la lên như thế? Không phải ông ấy sợ sao? Tội nghiệp Khổng! Hai thầy trò thoát chết, tưởng sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Khi gặp nhau mừng quá không dấu được cảm xúc. Khổng viết trong Trung Dung:

Mừng, giận, buồn, vui khi chưa phát gọi là Trung
Phát ra đúng lúc gọi là Hoà
Trung là đạo lớn của thiên hạ
Hoà là phong thái của người đạt đạo
Được cả trung lẫn hòa thì trời đất yên ổn
Vạn vật yên ổn.

Khổng chưa biết thế nào là vô trí, chưa có được một phút thinh lặng của tâm hồn vì ông ấy là người háo danh. Khổng viết, “Người quân tử hận rằng tới chết mà không ai biết tiếng mình,” (Luận Ngữ 15.19). Người háo danh khó mà có trung, có hòa. Giết người vì lợi ích cá nhân không thể nói là hòa. Khổng không phải là người đạt đạo nên không biết thế nào là phong thái của người đã đạt đạo. Người ấy không còn thấy có mình nên không có vấn đề trung với hòa. Vì không còn thấy có mình, người đã đạt đạo chẳng có mừng, giận, buồn, vui nữa. Sự kiện Khổng chưa đạt đạo đã được Trang Tử xác nhận, vì Khổng chưa biết thế nào là “ngồi quên”, tức là vẫn còn thấy có mình (Nam Hoa Kinh, Đại Tông Sư). Cho nên “trung” của Khổng không phải là đạo lớn của thiên hạ. Hòa cũng không phải phong thái của người đã đạt đạo, vì ông ấy sống như đã chết rồi nên làm gì có phong thái. Trung dung là tào lao chi thuyết, vì lời nói và việc làm của ông không đi đôi với nhau. Vì háo danh và rất sợ chết, người Hoa có thể bị cai trị dễ dàng. Mãn Châu đã có thể cai trị TQ hơn 400 năm vì biết tâm lý thích làm quan, thích đè đầu, bóp cổ người khác của người Hoa. Nếu không có sự can thiệp của tây phương trong thế kỷ 19, có lẽ Mãn Châu vẫn còn cai trị TQ.

Nói về nghĩa. Khổng Tử có vợ là Nguyên Quan thị, nhưng không lâu sau đó, Khổng và Nguyên Quan thị đã ly hôn. Thời Khổng Tử chỉ đàn ông mới có quyền bỏ vợ. Thế thì Khổng cũng không khác người thường, chẳng tình nghĩa gì cả. Thế thì Khổng là người bất nghĩa, chẳng đáng là người quân tử. Lý tưởng của Khổng là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nhảm nhí! Tu thân thì Khổng thất bại vì ông hoảng sợ khi bị vây khốn ở đất Khuông, lại là người háo danh. Tề gia Khổng cũng thất bại. Trị quốc cũng thất bại vì cầm quyền ở nước Lỗ được mấy tháng thì bị dèm pha rồi phải bỏ đi. Thế thì sao bình thiên hạ được? Mà thiên hạ bình an trong sự nô lệ của những bọn lãnh đạo lưu manh, tàn bạo, đúng không?

Cho nên Khổng thất bại trong mọi khía cạnh, đặc biệt là mặc cảm xấu xí. Xét về ngoại hình và thân thế, Khổng không phải là người có ngoại hình khá, nếu không nói là xấu xí (Hình 28). Trong lịch sử nhân loại, những người xấu như Khổng Tử đã làm lệch bánh xe lịch sử cũng nhiều. Bên tây phương, người đã thay đổi lịch sử chính là Socrates, tổ sư của triết học tây phương. Ông ấy bụng bự, mắt lồi, môi dầy. Đó là dấu hiệu của một sự phát triển bị ngăn chặn, một sự phát triển bị cản trở bởi sự pha giống. Có lần Socrates qua Athens, thầy tướng Zopyrus nói thẳng vào mặt ông, rằng ông ta chỉ là một quái vật, dấu trong mình tất cả những tật xấu và những khát vọng đồi bại. Socrates chỉ đáp, “Thưa ông, ông biết tôi rõ lắm”.67 Sinh ra với ngoại hình xấu xí là một đại bất hạnh.

Tương tự Socrates, Khổng mắt lồi, lỗ mũi rộng, lộ hầu, tai bạt, răng hở [68]. Theo Tư Mã Thiên, Khổng thuộc giai cấp quý tộc. Nhưng theo những nghiên cứu gần đây, Khổng xuất phát từ các bộ tộc “mọi rợ” không thuộc Trung Quốc thời đó. Trong tác phẩm Nhật Ký Của Người Điên (A Madman’s Diary), Lỗ Tấn mô tả kinh điển Nho giáo chép toàn những điều nhân nghĩa, nhưng người đọc chỉ thấy thấp thoáng giữa các trang sách ba chữ “ăn thịt người!” Nho giáo là một tổ chức trong đó người bóc lột người và ăn thịt nhau [69].

Vì thế về mặt tâm lý, vì ngoại hình xấu xí, lại thuộc dòng dõi man di mọi rợ, Khổng có mặc cảm tự ti rất lớn. Để che đậy mặc cảm ấy, Khổng đi khắp nơi dạy đời. Những giáo điều luân lý của Khổng giúp ông thoả mãn mặc cảm tự tôn của ông. Rằng mặc dù xấu xí, ông rất thông minh và hiểu được những điều người thường không sao hiểu được. Tuy nhiên, vì không tự tin những điều mình nói, ông không dám nhận là của mình, mà chỉ thuật lại những điều của Thuấn, Nghiêu, Văn Vương. Đáng nói hơn nữa, luân lý của Khổng tố cáo một điều mà các học giả không để ý: Trung Quốc là một dân tộc mọi rợ, chẳng biết nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là gì, cũng không biết tam cương, ngũ thường là gì. Vì nếu người Hoa thực sự có những đức tính đó, chẳng ai để ý đến lời của Khổng. Cho nên học thuyết của Khổng là cái gai trong mắt những bọn lãnh đạo lưu manh, hèn nhát và khát máu. Tần Thủy Hoàng chôn sống hơn 460 nho sinh ở Hàm Dương và thiêu hủy tất cả tài liệu của Nho giáo. Lưu Bang lúc đầu cũng rất ghét Nho giáo. Hắn nói với Lục Cổ, “Ta lấy được thiên hạ trên lưng ngựa, chứ có đọc kinh Thi, kinh Thư đâu.” Một lần khác một Nho sinh, tên Lợi Thực, đến cầu kiến, hắn cho gọi anh ta vào trong lúc vẫn điềm nhiên ngồi rửa chân, thể hiện sự xem thường Nho gia. Thậm chí hắn còn lấy mũ của nhà Nho làm bô đi vệ sinh. Mao Trạch Đông thì coi Khổng và Nho giáo là “tàn dư độc hại” của chủ nghĩa phong kiến bảo thủ cần phải xóa bỏ. Vài năm sau đó Mao làm Cách mạng Văn hóa. Sách vở của Khổng bị đốt, đền thờ Khổng bị biến thành kho chứa phân hoặc chuồng gia súc của các công xã. Mao nói một cách giận dữ, “Tần Thủy Hoàng đáng kể gì? Ông ta chỉ giết có 46 Nho sĩ. Còn chúng ta đã giết 46 ngàn thằng trí thức hủ nho ấy chứ. Có kẻ chửi chúng ta là độc tài thống trị, là Tần Thuỷ Hoàng thời nay. Chúng ta thừa nhận hết, rằng rất đúng sự thực. Nhưng chúng bay nói thế chưa đủ, chúng ta phải nói thêm rằng thực ra còn hơn thế” [65].

Tuy nhiên, mặc dù rất ghét giáo điều của Khổng, bọn lãnh đạo lưu manh Trung Quốc đã nhận ra phải dùng giáo điều đó để củng cố ngai vàng của chúng. Lục Cổ nói với Lưu Bang, “Trên lưng ngựa lấy được thiên hạ, nhưng có ngồi trên lưng ngựa mà giữ được thiên hạ không? Vũ Vương cũng nghịch đoạt nhưng thuận trị nên mới có thiên hạ đại trị. Còn Tần sau khi bình được 6 nước thì chỉ biết đến cực hình, giết hại nên 20 năm đã bị diệt. Nếu như nhà Tần có được thiên hạ rồi lại thi hành nhân nghĩa, đại trị thì bệ hạ làm sao có thể diệt nổi Tần?” Câu nói của Lục Cổ làm hắn tỉnh ngộ và dùng luân lý của Khổng để biến người Hoa thành những người phải hèn mà sống. Luân lý ấy được những bọn lưu manh sửa đổi để biến người Hoa thành đám người nô lệ. Sinh làm người Hoa thật là một đại bất hạnh. Tất cả chỉ vì mặc cảm tự ti của Khổng.

Nói rằng Khổng Tử có mặc cảm tự ti không hoàn toàn đúng vì, thật ra, ông ấy là một nhân vật tưởng tượng, là một sản phẩm của những đầu óc đầy mặc cảm vì thiếu sáng tạo. Cùng với những bằng chứng về khảo cổ và văn hoá đã bàn bên trên, tâm lý đầy mặc cảm đó là bằng chứng sau khi những di dân từ tây phương mang văn minh đến TQ chết đi, văn minh đó chỉ còn là cái xác không hồn. Kinh Dịch cũng không phải là một sáng tạo của TQ vì tâm trí đầy mặc cảm đó không thể hiểu được truyền thống thần nghiệm uyên thâm như thế. Và vì vậy một triết lý nền tảng cần phải được thiết lập để trả lại sự thật cho Kinh Dịch mà không quan tâm đến những nhảm nhí như Vô Cực, Thái Cực, Hà Đồ, Lạc Thư, Thập Dực, Âm Dương và Ngũ Hành, mà TQ đã dùng để đánh lừa nhân loại từ hơn 3000 năm qua.


KẾT LUẬN

Một sự kiện rất hiển nhiên nhưng không thấy học giả Việt Nam đề cập đến. Đó là TQ có nhiều giống dân khác nhau, nhưng chỉ có chung một chữ viết. Một học giả nói rằng trước khi Hán tộc chiếm được lục đia, Việt tộc dùng chữ “Chân chim,” nhưng sau khi nhà Tần diệt lục quốc, thừa tướng Lý Tư bắt cả nước dùng chữ Lệ còn dùng đến nay, và cấm dùng chữ Chân chim. Sự thật là cho đến nay chưa hề có bằng chứng hay dấu vết của chữ “Chân chim,” nghĩa là chỉ có một loại chữ được du nhập từ Trung Đông. Điều đó giải thích nhiều sự kiện lịch sử liên quan đến TQ:

Vì văn minh Trung đông du nhập vào vung Tây Bắc, TQ, những nơi còn lại của TQ chẳng có văn minh. Nó giải thích vì sao Hán tộc bắt đầu từ khu Tây Bắc tràn xuống Đông nam dễ dàng vì những nơi đó ánh sáng văn minh chưa đến. Nó cũng giải thích vì sao TQ chỉ có một loại chữ viết, so với Ấn Độ có nhiều sắc dân và có nhiều chữ viết khác nhau. Nó cũng giải thích một sự thật là TQ rất thông minh nhưng thiếu sáng tạo. Thật vậy, TQ thiếu sáng tạo đến nỗi nó không thể cải tiến chữ viết đã có hơn 3000 năm lịch sử; và không những thế, nó không thể thiết lập được một tôn giáo bản địa mà phải du nhập Phật giáo từ Ấn Độ, và nay là Kitô giáo và chủ nghĩa Cộng sản từ Tây phương.

Vì nghèo nàn trong sáng tạo, TQ có thể công nghệ hóa một văn minh nông nghiệp chỉ trong hơn 30 năm, nhưng TQ không có một khám phá đáng kể nào. Sự kiện này đã được Bá Dương xác nhận trong “Người Trung Quốc Xấu xí.” Bá Dương viết

“Cái văn hóa này trong 4.000 năm – từ Khổng Khâu (Khổng Tử) trở đi – không còn có được một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Những kẻ biết chữ đều chỉ luẩn quẩn ở học thuyết Khổng Khâu đã giảng hoặc môn đồ ông giảng lại chứ không hề có ý kiến độc lập của riêng mình…
Người Trung Quốc làm bất cứ việc gì, trước tiên bao giờ cũng nghĩ đến một vấn đề: ‘Chuyện này có chỗ nào mình lợi dụng được không?’ Ông bác học người Anh Newton trước khi tìm ra “Định luật vạn vật hấp dẫn” (còn gọi là ‘Thuyết trọng lực’) đi đồng thì phân rơi vào hố xí, sau khi phát minh định luật này, lúc đi đồng phân vẫn cứ rơi vào hố xí. Hoàn toàn không phải là trước khi phát minh thì đi đại tiện cứt bay lên đầy trời. Vì vậy dân tộc Trung Quốc không bao giờ ‘phát minh’ ra được một ‘thằng ngốc’ như Newton cả. Ga-li-lê tìm được ‘Nguyên lý rơi tự do của vật thể’. Đối với người Trung Quốc, đấy chỉ là cái trò chơi mất thì giờ, chẳng có giá trị thực dụng gì cả. Những người ‘hiền’ chẳng ai chơi cái trò đó!”

Tuy nhiên, Bá Dương và nhiều học giả không biết. Mặc dù người TQ, cũng như Hàn, Nhật thiếu sáng tạo nguyên thủy, khả năng nổi bật của họ là cải tiến. Trong khi trí thức Âu, Mỹ chỉ thích khám phá những chân lý nguyên thủy; ngược lại, vì tâm lý thực dụng, Á Đông thích cải tiến những khám phá nguyên thủy đó và áp dụng cho kinh tế thị trường. Khả năng đặc biệt này đã giúp biến TQ từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghệ chỉ trong vòng hơn 30 năm, và hiện nay nó đang đe dọa địa vị siêu cường của Âu, Mỹ. Trước đó khoảng hơn 10 năm, Mỹ đã phải chật vật đối đầu với kinh tế Nhật; nhưng so với TQ, kinh tế Nhật quá nhỏ nên bị Mỹ ép phải lên giá đồng Yen với những thỏa thuận bất lợi trong hiệp ước Plaza (Plaza Accord), làm cho nhiều doanh nghiệp phá sản. Từ đó đến nay Nhật ngóc đầu không nổi. Trong khi đó kinh tế Mỹ cũng không khá hơn, và phải chờ đến khi phần mềm Windows của Microsoft và mạng lưới toàn cầu, và đặc biệt với iPhone của Apple xuất hiện, Mỹ mới có thể lấy lại thế chủ động.

Hiện Mỹ đang dùng chiêu trò “bổn cũ xào lại,” qua cái gọi là thuế quan (tariff) để bắt thế giới trả món nợ khổng lồ với hơn 38 ngàn tỷ của Mỹ. Có lẽ TQ đã học được bài học của Nhật nên đã chuẩn bị trước qua việc liên kết với khối Toàn cầu Nam, đặc biệt các quốc gia trong khối BRICS. Thế thì trừ khi Mỹ có những khám phá động đất mới như iPhone, địa vị siêu cường của Mỹ khó mà giữ được.


CHÚ THÍCH

1 – Lewis, Ricardo. (2016). Does Chinese Civilization Come From Ancient Egypt?. Retrieved from http://foreignpolicy.com/2016/09/02/did-chinese-civilization-come-from-ancient-egypt-archeological-debate-at-heart-of-china-national-identity/
2 – Terrien de Lacouperie. (1989). Western origin of the early Chinese civilisation from 2,300 B. C. to 200 A. D. Retrieved from https://archive.org/stream/westernoriginofe00terrrich/westernoriginofe00terrrich_djvu.txt
3 – Hạ Thương Chu đoạn đại công trình. Retrieved from https://vi.wikipedia.org/wiki/HạThương_Chuđoạn_đại_công_trình
4 – Yun Kuen Lee (2002), “Building the chronology of early Chinese history”, Asian Perspectives: the Journal of Archaeology for Asia and the Pacific, 41.1: 15-42.
5 – Erik Eckholm, In China, Ancient History Kindles Modern Doubts, 10-11-2000. Retrieved from http://www.nytimes.com/2000/11/10/world/in-china-ancient-history-kindles-modern-doubts.html?sec=&spon=&pagewanted=all
6 – Douglas J. Keenan (2007), Defence of planetary conjunctions for early Chinese chronology is unmerited, Journal of Astronomical History and Heritage, 10: 142–147. Retrieved from http://www.informath.org/pubs/AH207a.pdf
7 – Douglas J. Keenan (2002), Astro-historiographic chronologies of early China are unfounded, East Asian History, 23: 61-68. Retrieved from http://www.informath.org/pubs/EAH02a.pdf
8 – Stephenson, Richard. (2008), “How reliable are archaic records of large solar eclipses?”, Journal for the History of Astronomy, 39: 229–250.
9 – Annals of the Xia. (n.d.). Retrieved from http://ctext.org/shiji/xia-ben-ji.
道九川:弱水至於合黎,餘波入于流沙。道黑水,至于三危,入于南海。
10 – S Korea ‘to target powdered human flesh capsules’. (2012). Retrieved from http://www.bbc.com/news/world-asia-17980177
11 – Fake egg making. (n.d.). Retrieved from https://www.youtube.com/results?search_query=fake+egg+making
12 – McRae, John. (2004). Seeing through Zen: Encounter, Transformation, and Genealogy in Chinese Chan Buddhism.
13 – McRae, John. (1987). The Northern School and the Formation of Early Ch’an Buddhism.
14 – Văn Minh Trung Hoa Đến Từ Ai Cập Cổ Đại? Retrieved from http://zeally.net/van-minh-trung-hoa-ai-cap/
15 – Parfitt, T. (2011). Why China Will Never Rule the World: Travels in the Two Chinas. Western Hemisphere Press.
16 – Taiwan’s territorial claims. (2016). Retrieved from https://ilhaformosaaltomtaiwan.wordpress.com/2016/02/25/taiwans-territorial-claims/
17 – Mearsheimer, John. (2004). Why China’s Rise Will Not Be Peaceful. Retrieved from http://mearsheimer.uchicago.edu/pdfs/A0034b.pdf
18 – Chinese president arrives in Egypt for state visit. (2016). http://news.xinhuanet.com/english/2016-01/21/c_135029270.htm
19 – Were Hebrews Ever Slaves in Ancient Egypt? Yes. (2016). Retrieved from http://www.haaretz.com/jewish/archaeology/1.713849
20 – The Exodus: Jewish History, or Ancient Semitic Memory? (2014). Retrieved from http://www.haaretz.com/jewish/archaeology/.premium-1.584911
21 – Lau, R. (2014). Chinese Writing and Abstract Thought: A Historical-Sociological Critique of a Longstanding Thesis. International Journal of Humanities and Social Science Vol. 4, No. 8(1); June 2014, p. 37-54
22 – Swancer, Brent. (2014). The Mysterious European Mummies of China. Retrieved from http://mysteriousuniverse.org/2014/10/the-mysterious-european-mummies-of-china/
23 – DeFrancis, J, (1989). Visible Speech: The Diverse Oneness of Writing Systems [Honolulu: University of Hawaii Press, 1989. Retrieved from http://cdli.ucla.edu/staff/englund/m20/defancis1989_oneness_chinese.pdf
24 – Carus, Paul. (1907). Chinese Thoughts. The Open Court, p. 42. Retrieved from https://babel.hathitrust.org/cgi/pt?id=uc1.$b53101;view=1up;seq=7
25 – Schmandt-Besserat, D. (2014). The Evolution of Writing. Retrieved from https://sites.utexas.edu/dsb/tokens/the-evolution-of-writing/
26 – Ojibwa. (2010). The Fall of Babylon, Cyrus the Great, and the Chinese? Retrieved from http://www.dailykos.com/story/2010/9/28/906093/-
27 – Ancient History Math Mystery. (n.d.). Retrieved from https://www.penn.museum/documents/education/penn-museum-math.pdf
28 – Giáp cốt văn. (n.d.). Retrieved from https://vi.wikipedia.org/wiki/Giáp_cốt_văn
29 – Goldin, P. (2008). The Myth That China has No Creation Myth. Journal of Oriental Studies, Vol. LVI, 2008, p. 1-22.
30 – Rao Zongyi 饒宗頤, Zhongguo zongjiao sixiangshi xinye 中國 宗教 思想 史 新 頁. Beida xueshu jiangyan congshu 11 (Beijing 2000), trang 95ff, cited by Goldin, P. (2008).
31 – Liu Qiyu 劉 起 釪, Gushi xubian 古史 續 編 ([Beijing]: Zhongguo shehui kexue 1991), trang 84-91, cited by Goldin, P. (2008).
32 – Mote, F. (1972). The Cosmological Gulf between China and the West, p. 7f. in Transition and Permanence: Chinese History and Culture, ed. David C. Buxbaum and Frederick W. Mote (Hong Kong 1972), cited by Goldin, P. (2008).
33 – Blavatsky, H. P. (1888). The Secret Doctrine, vol 2, p. 524.
34 – Campbell, J. (1991). Oriental Mythology (The Masks of God). Penguin Books; New edition edition
35 – Flood myth. (n.d.). https://en.wikipedia.org/wiki/Flood_myth
36 – Manu. (n.d.). Retrieved from https://www.britannica.com/topic/Manu
37 – Secter, Mondo. (1998). The Yin-Yang System of Ancient China: The Yijing-Book of Changes as a Pragmatic Metaphor for Change Theory. Journal for Interdisciplinary and Cross-Cultural Studies: Volume 1 / 1998. Retrieved from http://smu-facweb.smu.ca/~paideusis/volume1/n1ms.pdf
38 – TS Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh. Kinh Dịch và Cấu Hình Tư Tưởng Trung Quốc. NXB Khoa học và Xã hội.
39 – Shaughnessy, Edward. (1983). The Composition of the Zhouyi. Ph.D. dissertation. Stanford University, p. 74
40 – Schwartz, Benjamin. (1985). The World of Thought in Ancient China, Belknap Press, tr. 350.
41 – Waltke, Bruce. (2016). Finding the Will of God. Eerdmans; 2 edition, pp. 62-64. https://bible.org/question/how-did-urim-and-thummim-function
42 – Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê. Dịch Kinh Đại Toàn. http://nhantu.net/DichHoc/DichKinhDaiToan.htm
43 – Kim Định. Sứ Điệp Trống Đồng, trang 85 (http://www.vietnamvanhien.org/sudieptrongdong.pdf).
44 – Hồ Thích. Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương. Minh Đức dịch. Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, p. 138.
45 – Mak, Bill. (2015). The Transmission of Buddhist Astral Science from India to East Asia: The Central Asian Connection. Retrieved from http://www.billmak.com/wp-content/uploads/2015/04/03_kagakushi05.pdf
46 – Mak, B. (2016). Astral Science of the East Syriac Christians in China During the Late First Millennium AD. Retrieved from http://www.billmak.com/wp-content/uploads/2015/04/03_kagakushi05.pdf
47 – Dorotheus of Sidon (2005). Carmen Astrologicum. Astrology Classics.
48 – Crockett, Christopher. (2017). Ecliptic traces the sun’s path. Retrieved from http://earthsky.org/space/what-is-the-ecliptic
49 – Knight, R. (1982). The Symbolical Language of Ancient Art and Mythology. New York. J. W. Bouton, 8 West 28th Street, page 97.
50 – Hall, M. (1928). The Secret Teachings of All Ages. H.S. Crocker Company. Retrieved from http://www.istitutocintamani.org/libri/The_secret_teachings_of_all_ages.pdf, chapter 12.
51 – The Race to the Finish. Retrieved from http://depts.washington.edu/triolive/quest/2007/TTQ07030/mythology.html
52 – Boll, F. (1903). Sphaera. Leipzig. Retrieved from http://www.hellenisticastrology.com/critical%20editions/Boll-Sphaera.pdf
53 – Sayce, A. (1913). Records of the past : being English translations of the ancient monuments of Egypt and western Asia. Volume XII. Records Of The Past Exploration Society. Washington, D. C, p. i7.
54 – Daressy, J. Recueil de travaux rel. a la philol, et a I’arch Egypt, et Assyr., XXIII, 126 f. Trích trong Carus, P. (1907). Chinese Astrology, p. 101.
55 – Chou, D. (2013). A Study of the (Western) Zodiac Signs in Chinese Art. Retrieved on 6/21/2017 from http://beyondborders-medievalblog.blogspot.com/2013/03/a-study-of-western-zodiac-signs-in.html
56 – Carus, Paul. (1906). Zodiacs of Different Nations. The Open Court. Retrieved from http://opensiuc.lib.siu.edu/ocj/vol1906/iss8/2
57 – Chinese astrology. (n.d.). Retrieved from http://www.feng-shui-institute.org/Chinese_Astrology/Chinese_Astrology_FSI.html
Nguyên văn Anh ngữ:
Chinese astrology is believed to have been passed down from the Sumerian and Babylonian cultures to the Chinese almost 5,000 years ago. Astrology was originally for the sole use of the emperor, responsible for peace and harmony in the kingdom. For him to rule well and with authority, he needed accurate information from his astrologers.
Originally known as “Five House” or “Five Planet” astrology, it was based on the five major planets in our Solar system; Mercury, Venus, Jupiter, Saturn and Mars. Later the Sun and Moon were added to make seven “stars” and provided the foundation for what is known as the Twenty Eight Lunar Mansions.

58 – Steele, John. (2007). A Comparison of Astronomical Terminology and Concepts in China and Mesopotamia. Retrieved from http://www.caeno.org/origins/papers/Steele_AstronomyTerminology.pdf
59 – Kotyk, Jeffrey. (2015). Chronology of Occidental Astrology in East Asia. Retrieved from https://sites.google.com/site/dharmadepository/buddhist-astrology/chronology-of-occidental-astrology-in-ea
60 – Bá Dương. Người Trung Quốc Xấu Xí. Nguyễn Hồi Thủ dịch. Retrieved from http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/thu-vien-so-sach-anh-video/tu-sach-van-hoa-hoc/346-ba-duong-nguoi-trung-quoc-xau-xi-1.html
61 – List of Chinese inventions. (n.d.). Retrieved from https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Chinese_inventions
62 – Hegel, Lectures on the History of Philosophy, Vol. 1.
63 – Liu, J. (2009). Converting Chinese Philosophy into the Analytic Context. Retrieved from http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.584.4166&rep=rep1&type=pdf
64 – Tướng Trung Quốc bàn về niềm tin và đạo đức. (2010). Retrieved on 1/15/2017 from http://tuanvietnam.net/2010-08-15-niem-tin-va-dao-duc
65 – Lau, R. (2014). Chinese Writing and Abstract Thought: A Historical-Sociological Critique of a Longstanding Thesis. International Journal of Humanities and Social Science Vol. 4, No. 8(1); June 2014, p. 37-54
66 – Cửu Bình: Chín bài bình luận về Đảng cộng sản. http://vnthuquan.org/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmn2n1n1n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1
67 – Miller, J. (2012). Examined Lives: From Socrates to Nietzsche. Picador, trang 27
68 – Freedman, R. (2002). Confucius: The Golden Rule. Arthur A. Levine Books; 1 edition
69 – Livaccari, C. (2011). Not Your Father’s Confucius. Retrieved from http://asiasociety.org/blog/asia/not-your-fathers-confucius
70 – Mysterious 3,000 year old ‘sun altar’ discovered in northwest China. (2017). Retrieved on 6/22/2017 from https://www.rt.com/viral/393647-ancient-sun-altar-china-xinjiang/
71 – Plunket, Emmeline. (1903). Ancient Calendars and Constellations, chapter 8. London. John Murray, Albemarle Street, W.
72 – Terrien de Lacouperie. (1989). Western origin of the early Chinese civilisation from 2,300 B. C. to 200 A. D. Retrieved from https://archive.org/stream/westernoriginofe00terrrich/westernoriginofe00terrrich_djvu.txt. Trong trang xi, Lacouperie viết:
Other scholars and sinologists, overwhelmed by the intricacy of the historical literature of China – interwoven as it is by numerous generations of native commentators and thinkers, who have each improved upon the work of their predecessors – find themselves unable to throw over the yoke, and not seeing through this fictitious atmosphere, stand apart, and incline towards a blind and dangerous scepticism which goes so far as to doubt of everything, the historical existence of Confucius included.


Tags:

error: Không thể copy! (Content protected!)