Một chi tiết tối quan trọng mà nhiều kinh tế gia không biết. Đó là kinh tế học không phải là một khoa học chính xác như các khoa khác như Toán, Vật lý, Hóa học… Lý do là kinh tế có những yếu tố liên quan đến con người, nhưng kinh tế học không quan tâm đến, mà chỉ chú trọng đến những phương trình toán học không liên quan đến cuộc sống. Đó là lý do kinh tế học chưa bao giờ đoán được những cơn bão sắp sửa ập đến, chẳng hạn khủng hoảng 1929, 1987, 2001, 2008 và khủng hoảng sắp tới năm 2029 sẽ lớn hơn tất cả những khủng hoảng trước đây. Hơn nữa, kinh tế học cũng không quan tâm đến những đóng góp của những doanh nhân thiên tài như Henry Ford, Thomas Edison. Rockerfeller, Bill Gates, Steven Jobs, Elon Musk… Sau khủng hoảng kinh tế 1929, nhu cầu chiến tranh đã tạo ra nhiều triệu việc làm đã giúp Mỹ thoát khỏi khủng hoảng, không phải do chính phủ đầu tư như chủ trương của những kinh tế gia như John Keynes… Và trong thập niên 1980, kinh tế Mỹ bị kinh tế Nhật áp đảo, nhưng nhờ computer cá nhân của Steve Jobs và Bill Gates, cùng với mạng lưới toàn cầu đã giúp Mỹ lấy lại được thế chủ động, mà chính quyền không có bất kỳ đóng góp nào.
Vì vậy, có lẽ vì biết kinh tế học không phải là một khoa học thực sự, trong di chúc của Alfred Nobel, người sáng lập giải Nobel, không hề nhắc đến kinh tế học, và đặc biệt không có toán học. Cho nên nhiều học giả không coi Nobel Kinh tế là Nobel thực sự vì những lý do sau đây:
• Năm 1968, giải Nobel Kinh tế đã được Ngân hàng Trung ương Thụy Điển thiết lập để kỷ niệm 300 năm thành lập của nhà băng.
• Nguồn tài trợ: Giải thưởng này được tài trợ bởi Ngân hàng Trung ương, chứ không phải từ quỹ tài trợ ban đầu của Nobel.
• Mục đích: Một số nhà sử học và thành viên của gia đình Nobel cho rằng giải thưởng này được tạo ra như một công cụ chính trị để tạo ra tính hợp pháp khoa học cho các lý thuyết kinh tế thị trường tự do (như của Hayek và Friedman), vốn ủng hộ lợi ích của ngân hàng và các tập đoàn, hơn là các chính sách phúc lợi xã hội.
- Ủy ban lựa chọn Hayek và Friedman bao gồm năm học giả người Thụy Điển. Mặc dù họ không phải là nhân viên của Ngân hàng Trung ương, lựa chọn của họ đã bị chỉ trích vì tính khép kín và thiên lệch về mặt tư tưởng:
- Assar Lindbeck (Chủ tịch): Thường được coi là người nắm giữ quyền quyết định giải thưởng.
- Erik Lundberg: kinh tế gia nổi tiếng Thụy Điển, nhìn chung ủng hộ xu hướng của ủy ban chuyển kinh tế học từ cổ điển sang tân cổ điển.
- Herman Wold: Một nhà thống kê ủng hộ mô hình toán học chặt chẽ mà Friedman đề xướng.
- Bertil Ohlin & Ingvar Svennilson: Hai thành viên này thuộc giới tinh hoa kinh tế Thụy Điển; họ muốn hiện đại hóa tư tưởng kinh tế Thụy Điển, thoát khỏi chủ nghĩa dân chủ xã hội truyền thống.
• Chương trình nghị sự của Ngân hàng: Vào cuối những năm 1960, Ngân hàng Trung ương và chính phủ Dân chủ Xã hội Thụy Điển đang có đấu tranh chính trị. Chính phủ muốn ngân hàng giữ lãi suất thấp để tài trợ cho nhà ở và việc làm; ngân hàng thì muốn độc lập để tập trung vào ổn định kiểm soát lạm phát.
• Giải thưởng như một vũ khí: Bằng cách tạo ra giải “Nobel” về kinh tế, ngân hàng đã tự trao cho mình quyền định nghĩa thế nào là kinh tế “tốt”. Bằng cách trao giải cho Hayek và Friedman – người ủng hộ hàng đầu thế giới về sự độc lập của ngân hàng trung ương và kiểm soát lạm phát –về cơ bản họ đã xác nhận lập trường chính trị của chính mình chống lại chính phủ.
• Phản đối từ gia đình Nobel. Tranh cãi do việc chọn Friedman gay gắt đến mức Peter Nobel, cháu trai của Alfred Nobel, đã dành nhiều thập kỷ để lên án giải thưởng Kinh tế. Peter Nobel viết: “Giải thưởng Kinh tế đã được trao cho các nhà kinh tế để nâng cao danh tiếng của họ… nó thường được trao cho những người đầu cơ chứng khoán. Không có bằng chứng nào cho thấy Alfred Nobel muốn có một giải thưởng như vậy.” Quan trọng hơn cả, việc trao giả Nobel cho Hayek và Friedman nằm trong kế hoạch quốc tế nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho việc khuyến khích chính quyền bãi bỏ quy định để chuyển hướng tới toàn cầu hóa. Kế hoạch này cần có tiếp tay của Cục Dự trữ Liên bang và chính quyền Ronald Reagan mới thành. Nhưng bước đầu là trao giải Nobel Kinh tế cho Friedrich Hayek năm 1974, rồi Milton Friedman năm 1976, vì hai kinh tế gia này đều khuyên chính quyền không can thiệp vào những hoạt động kinh tế để sửa soạn cho kế hoạch chinh phục thế giới qua việc toàn cầu hóa.
FRIEDRICH HAYEK
Trong cuốn “Đường vào Chế độ Nông nô” (The Road to Serfdom), xuất bản 1944, triết gia kinh tế người Anh-Áo, Friedrich Hayek đã cảnh báo về mối nguy hiểm của chế độ chuyên chế vốn không thể tránh khỏi, khi chính phủ toàn quyền quyết định kinh tế thông qua kế hoạch hóa tập trung.”[1] Ông lập luận thêm rằng việc từ bỏ chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do cổ điển chắc chắn sẽ dẫn đến mất tự do, tạo ra một xã hội áp bức, chế độ độc tài và nô dịch hóa cá nhân. Quan điểm này đã gặp nhiều ý kiến trái chiều.
Jeffrey Sachs, giáo sư Kinh tế Đại học Columbia, lập luận rằng bằng chứng thực nghiệm cho thấy các quốc gia phúc lợi, với tỷ lệ thuế cao và chi tiêu xã hội lớn, hoạt động hiệu quả hơn so với các nền kinh tế thị trường tự do.[58] Theo Sachs, các quốc gia Bắc Âu (Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan), vẫn duy trì kinh tế tự do và theo chủ nghĩa tư bản, bất chấp hệ thống phúc lợi xã hội rộng lớn, là bằng chứng cho thấy Hayek đã sai khi cho rằng các chương trình như vậy sẽ dẫn đến chế độ chuyên chế, nô lệ.
Gordon Tullock, giáo sư Luật Đại học George Mason, lập luận rằng phân tích của Hayek đã dự đoán sai khi cho rằng chính phủ ở nhiều quốc gia châu Âu vào cuối thế kỷ 20 sẽ rơi vào chế độ toàn trị. Ông lấy Thụy Điển làm bằng chứng, nơi chính phủ ở đó kiểm soát 63% tổng sản phẩm quốc nội (GNP), làm ví dụ để ủng hộ lập luận của mình, rằng vấn đề cơ bản Hayek, đã đưa ra những dự đoán sai lầm. Sự gia tăng không ngừng của chính phủ ở những nơi như Thụy Điển đã không dẫn đến bất kỳ sự mất mát nào về các quyền tự do kinh tế và chính trị.
Karl Polanyi, nhà sử học kinh tế, nhà xã hội học kinh tế và chính trị gia người Áo-Hungary,[2] nổi tiếng nhất với cuốn “Cuộc chuyển đổi vĩ đại” (The Great Transformation), trong đó ông đặt câu hỏi về tính hợp lệ về mặt khái niệm của thị trường tự điều chỉnh,[3] đã đưa ra lập luận hoàn toàn trái ngược với Hayek, cho rằng thị trường không bị kiểm soát đã làm suy yếu trật tự xã hội và sự sụp đổ kinh tế đã mở đường cho sự xuất hiện của chế độ độc tài.[63]
Robert Skidelsky, giáo sư lịch sử và kinh tế chính trị tại nhiều trường đại học và là Giáo sư danh dự về Kinh tế chính trị tại Đại học Warwick, lập luận rằng chế độ dân chủ xã hội không sụp đổ thành chế độ nô lệ. Hayek cũng biết điều đó. Ông viết rằng “nhà chính trị dân chủ nào bắt đầu lập kế hoạch cho đời sống kinh tế sẽ sớm phải đối mặt với lựa chọn giữa việc nắm giữ quyền lực độc tài, hoặc từ bỏ kế hoạch của mình.” Đến những năm 1970, những điều Hayek lo sợ đã trở thành sự thật khi Magaret Thatcher xuất hiện owr Anh, và sau đó là Ronald Reagan ở Mỹ. Cảnh báo của Hayek đã dọn đường cho Thatcher và Reagan trong kế hoạch “thu hẹp vai trò của nhà nước,” nghĩa là chủ trương nhà nước không can thiệp vào các hoạt động kinh tế, để các doanh nhân có thể tự do đưa ra những quyết định có lọi cho doanh nghiệp của mình, mặc dù những quyết định đó sẽ gây xáo trộn cho kinh tế và xã hội mà ta đang chứng kiến hiện nay. Ở Anh với Hayek, còn ở Mỹ với Milton Freiman.
MILTON FREIMAN
Milton Friedman (1912-2006) đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1976 với công trình nghiên cứu về phân tích tiêu dùng, lịch sử, lý thuyết tiền tệ, và phức tạp của chính sách ổn định kinh tế. Lý thuyết cốt lõi của ông ủng hộ can thiệp tối thiểu của chính phủ, thị trường tự do và tự do kinh tế cá nhân, lập luận rằng điều này sẽ tối đa hóa thịnh vượng và tự do, tóm gọn nổi tiếng bằng niềm tin rằng trách nhiệm chính của một doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Ông cũng phát triển thuyết tiền tệ, liên kết nguồn tiền với lạm phát, và giả thuyết thu nhập thường xuyên, cho rằng mọi người chi tiêu dựa trên thu nhập dài hạn, chứ không chỉ thu nhập hiện tại, ảnh hưởng đến hành vi tiền tệ và tiêu dùng.
Tóm Tắt Lý Thuyết của Friedman
• Thị trường tự do và chính phủ hạn chế: Ông tin rằng thị trường tự do tự nhiên phân bổ nguồn lực rất hiệu quả, và can thiệp của chính phủ (thuế, quy định) cản trở tự do và tăng trưởng kinh tế, do đó chủ nghĩa tư bản tự do (laissez-faire) là lý tưởng.
• Học thuyết Friedman (Lý thuyết về cổ đông): Ông lập luận rằng các giám đốc điều hành doanh nghiệp là người đại diện cho các cổ đông; trách nhiệm xã hội duy nhất của họ là tăng lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật, chứ không phải tự mình theo đuổi các mục tiêu xã hội, vì các cổ đông có thể tự quyết định về vấn đề từ thiện.
• Chủ nghĩa tiền tệ: Ông chủ trương rằng kiểm soát nguồn tiền là chìa khóa ổn định kinh tế, khẳng định rằng tăng trưởng nguồn tiền nhanh chóng gây ra lạm phát và tăng trưởng nguồn tiền ổn định dẫn đến giá cả ổn định.
• Giả thuyết thu nhập thường xuyên: Ông đề xuất rằng người tiêu dùng dựa vào thu nhập dự kiến suốt đời (thu nhập thường xuyên) chứ không chỉ thu nhập hiện tại để quyết định chi tiêu, ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tiêu dùng và tiết kiệm. • Tự do kinh tế = Tự do cá nhân: Theo ông, liên hệ trực tiếp giữa tự do kinh tế và tự do cá nhân, trong đó tự do kinh tế cho phép cá nhân lựa chọn, thúc đẩy trách nhiệm và độc lập.
Ảnh Hưởng và Ứng Dụng
Những ý tưởng của Friedman đã ảnh hưởng đáng kể đến các chính sách bảo thủ, cố vấn cho các nhà lãnh đạo như Ronald Reagan (Mỹ) và Margaret Thatcher (Anh), thúc đẩy việc bãi bỏ quy định, tư nhân hóa và giảm chi tiêu chính phủ. Ông lập luận rằng kinh tế tự do thúc đẩy đổi mới và phục vụ xã hội tốt hơn so với các chương trình xã hội được hoạch định tập trung, tương tự quan điểm của Hayek.
Lý thuyết của Friedman, nhấn mạnh rằng trách nhiệm xã hội duy nhất của một công ty là tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, phải đối mặt với những chỉ trích đáng kể vì bỏ qua các bên liên quan khác (nhân công, cộng đồng, môi trường), có khả năng dẫn đến các tác động tiêu cực như bất bình đẳng và thiệt hại môi trường, và bỏ qua tác động xã hội rộng lớn hơn của doanh nghiệp. Các nhà phê bình ủng hộ mô hình các bên liên quan, cân bằng lợi nhuận với các nghĩa vụ xã hội và đạo đức. Những lời chỉ trích chính nhận ra tập trung hẹp hòi của học thuyết, thất bại trong việc thừa nhận vai trò xã hội của doanh nghiệp, và khả năng các CEO lạm dụng quyền lực nhân danh lợi nhuận, đòi hỏi các khuôn khổ pháp lý, thay vì chỉ dựa vào lương tâm của doanh nghiệp.

